Tác Giả: Nhiều Tác Giả - Nh Xuất Bản: NXB Trẻ

Trường Sa v Hong Sa l của Việt Nam

NGUYỄN NHÃ - Tiến sĩ sử học , giới thiệu

Tập sách Hong Sa, Trường Sa l của Việt Nam được NXB Trẻ ấn hnh năm 2008. Nội dung cuốn sách l tập hợp một số bi nghin cứu, bi báo v những tư liệu mới của các nh sử học v các nh nghin cứu, chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa v Hong Sa, xt về mặt lịch sử v luật pháp quốc tế.

Phần I: Chủ quyền của Việt Nam đối với Hong Sa v Trường Sa - Cơ sở lịch sử v pháp lý quốc tế

Quyết định của Quốc vụ viện Trung Quốc thnh lập thnh phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý ba quần đảo, trong đó có quần đảo Ty Sa v Nam Sa, tức Hong Sa v Trường Sa của Việt Nam, l hnh động ngang ngược, bất chấp lẽ phải, ch đạp ln sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trn hai quần đảo ấy.

Luận điểm đầu tin của chính quyền tỉnh Quảng Đng khi cng khai khảo sát Hong Sa m Trung Quốc gọi l Ty Sa vo năm 1909, l cho rằng quần đảo 밫y Sa l đất v chủ (res nullius), hải qun tỉnh Quảng Đng đã cắm cờ trn đảo v bắn 21 phát súng đại bác tại một số đảo ở Hong Sa năm 1909.

Sau khi dng vũ lực một cách bất hợp pháp cưỡng chiếm Hong Sa vo trung tuần tháng ging năm 1974, Trung Quốc đã cố gắng tìm kiếm ti liệu để cố gán ghp bằng cách cắt xn, nếu cần thì xuyn tạc với sự đóng góp của các nh học giả như Sử Lệ Tổ đưa ra luận điểm cho rằng 밹ác đảo Nam Hải từ cổ xưa đến nay l lãnh thổ Trung Quốc, do nhn dn Trung Quốc 뱎hát hiện sớm nhất, 뱆inh doanh sớm nhất, do chính phủ các triều đại Trung Quốc 뱏uản hạt sớm nhất v viện dẫn nhiều ti liệu lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng (Quang Minh Nhật Báo, 24-11-1975).

Những luận cứ cố gán ghp

Để minh chứng cho sự xác lập chủ quyền của mình ở Ty Sa tức Hong Sa của Việt Nam, Trung Quốc lại cũng đưa ra những luận điểm được coi l 뱕ững mạnh nhất như sau:

1. Trung Quốc khẳng định các đảo Nam Hải đã thuộc phạm vi quản hạt của Trung Quốc từ năm thứ 5 nin hiệu Trinh Nguyn đời Đường năm 789. Đúng sử sách Trung Quốc như sách Chư Phin Chí của Triệu Nhữ Quát có chp những thay đổi về qui chế hnh chính từ đời Hán đến đời Tống, trong đó có việc Quỳnh Sơn, một quận của đảo Hải Nam thời đó (xin nhấn mạnh) - sau thuộc thnh phố Hải Khẩu - được đặt thnh 뱎hủ đ đốc vo năm thứ 5 nin hiệu Trinh Nguyn đời Đường, tức năm 789.

Nhưng qua các sách Đường Thư, Thái Bình Hon Vũ Ký, Dư Địa Kỷ Thăng (1221), Quảng Đng Thng Chí (1842) thì vo năm thứ 5 nin hiệu Trinh Nguyn đời Đường tại đảo Hải Nam chỉ thấy có chuyện kể vin đ đốc nh Đường l Lý Phục mang qun sang lấy lại đảo Hải Nam sau hơn 100 năm dn bản địa nổi dậy lm chủ đảo v xin vua Đường đặt phủ đ đốc ở quận Quỳnh Sơn, khng hề có chuyện 뱒áp nhập bất kỳ đảo ở biển Nam Trung Hoa vo đảo Hải Nam.

2. Trung Quốc phái thủy qun đi 뱓uần tiễu. Trung Quốc đã viện dẫn các sự kiện để chứng minh. Trước hết về luận cứ 뱎hái thủy qun tuần tiễu cương giới biển, luận chứng của nhóm Hn Chấn Hoa chỉ dựa vo một đoạn trong sách Vũ Kinh Tổng Yếu, song những đoạn văn ny hon ton khng chứng minh được lập luận 밫rung Quốc phái thủy qun tuần tiễu quần đảo Ty Sa bắt đầu đời Tống.

Nhóm Hn Chấn Hoa đã cố gán ghp hai đoạn văn vo với nhau gồm đoạn văn nói về lộ trình 밫ừ đồn Mn Sơn đến các nước Đại Thực, Phật Sư Tử, Thin Trúc tiếp liền vo đoạn văn đầu viết về đặt dinh lũy thủy qun tuần tiễu ở hai cửa biển Đng v Ty. Điều ny khng đúng với nguyn bản Vũ Kinh Tổng Yếu. Đy chỉ l sự cố gán ghp đầu Ng mình Sở để cố minh chứng việc tuần tiễu thủy qun đời Tống qua đất 밅ửu Nhũ Loa Chu m nhóm ny cho l Ty Sa.

Còn việc tuần tiễu của Ng Thăng, trước hết tìm hiểu vị trí các địa danh trn, chúng ta được biết Quỳnh Nhai l thủ phủ Quỳnh Chu ở phía bắc đảo Hải Nam, Đồng Cổ l quả núi cao 339m ở phía đng bắc đảo Hải Nam, Thất Chu Dương l phía đng đảo Hải Nam, Tư Canh Sa l bãi cát phía ty đảo Hải Nam. Đy chỉ l cuộc tuần tiễu của Ng Thăng quanh đảo Hải Nam, chứ khng đến Ty Sa, nn nhớ rằng Thất Chu Dương ở phía đng đảo Hải Nam nn khng hề l Ty Sa tức Hong Sa của Việt Nam, vốn cách Hải Nam hơn 350 hải lý về phía đng nam.

3. Các đảo Nam Hải đã được vẽ vo bản đồ Trung Quốc. Các tác giả bộ sưu tập do Hn Chấn Hoa chủ bin cũng rất 밹ng phu đưa ra 13 bản đồ v chia lm hai loại. Một loại l bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh có vẽ các đảo Nam Hải. Một loại khác l bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh v các nước phin thuộc, cũng có vẽ các đảo Nam Hải.

Bằng chứng thuyết phục

Có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc từ đời Nguyn, Minh đến Thanh, trong đó có bản đồ ấn bản gần thời điểm có tranh chấp như bản đồ Đại Thanh Đế Quốc trong Đại Thanh Đế Quốc ton đồ, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910 đã vẽ cực nam của lãnh thổ Trung Quốc l đảo Hải Nam, khng vẽ bất cứ hải đảo no khác ở biển Đng.

Bản đồ Hong Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ trong cuốn Hong Thanh Nhất Thống dư địa ton đồ xuất bản năm Quang Tự 20 (1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc l Nhai Chu, phủ Quỳnh Chu, Quảng Đng ở 18 độ 30 phút Bắc, trong khi Ty Sa hay Hong Sa được Trung Quốc đặt tn, có đảo ở vị trí cao nhất l 17 độ 5 phút. Điều ny chứng tỏ Ty Sa hay Hong Sa chưa hề l lãnh thổ của Trung Quốc.

Trong khi đó, ngay ti liệu của chính người Trung Quốc như Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán đã cho biết Chúa Nguyễn sai thuyền khai thác các sản vật từ các tu bị đắm ở Vạn Lý Trường Sa, tức Hong Sa v Trường Sa của Việt Nam. Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện lin tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Ty Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ rng.

Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phn tranh v thời Ty Sơn, nguồn tư liệu về Hong Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc H, chủ yếu l Thin Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thin Hạ bản đồ v Phủ Bin Tạp Lục, năm 1776 của L Quý Đn.

Trong Thin Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản đồ l ti liệu xưa nhất, ghi rõ hng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vng. Còn ti liệu trong Phủ Bin Tạp Lục của L Quý Đn (năm 1776) l ti liệu cổ, m tả kỹ cng nhất về Hong Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hong Sa bằng hoạt động của đội Hong Sa v đội Bắc Hải.

Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều ti liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trn quần đảo Hong Sa v Trường Sa:

- Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) v sách Hong Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hong Sa của hai cuốn sách trn có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Bin Tạp Lục của L Quý Đn cuối thế kỷ XVIII.

- Đại Nam Thực Lục phần tiền bin, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hong Sa v đội Bắc Hải.

- Đại Nam Thực Lục Chính bin đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hong Sa v Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hong Sa v Trường Sa.

- Ti liệu rất quí giá l chu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại Kho lưu trữ trung ương 1 ở H Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Cng, v các cơ quan khác hay những dụ của các nh vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trn quần đảo Hong Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hong Sa, cắm cột mốc... Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục.

- Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai v khắc in) xác định Hong Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi v tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hong Sa v đội Bắc Hải do đội Hong Sa kim quản...

Ngoi ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vng hay Hong Sa v Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.

 

Những tư liệu phương Ty xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trn quần đảo Hong Sa v Trường Sa:

 

- Nhật ký trn tu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels l một quần đảo thuộc về nước An Nam.

 

- Le mmoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) viết vo những năm cuối đời Gia Long (hon tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trn quần đảo Paracels.

 

- An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Cát Vng (Hong Sa) l Paracels v nằm trong vng biển của Việt Nam.

 

- The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol. VI đã đăng bi của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels).

 

- The Journal of the Geographical Society of London (năm 1849) Gutzlaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền v một trại qun nhỏ để thu thuế ở Paracels...

 

Về những tư liệu của Trung Quốc v phương Ty minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hong Sa v Trường Sa, người ta thấy:

 

- Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật  từ các tu đắm trn quần đảo Vạn Lý Trường Sa.

 

- Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Ty Sa v Nam Sa khng thuộc về Trung Quốc.

 

Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ khng có bản đồ no có ghi các quần đảo Ty Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam l cực nam của bin giới phía nam của Trung Quốc.

 

Sau khi Trung Quốc dng vũ lực chiếm đóng Hong Sa tháng 1-1974, nhiều đon khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo ny v gọi l 뱎hát hiện nhiều cổ vật

như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trn các hòn đảo ny, song đều khng có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngi miếu

밐ong Sa Tự ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lm (Ile Boise), lại l bằng chứng hiển nhin vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam.

 

Hong Sa Trường Sa đích thực l của Việt Nam

 

Bạch thư của Nh nước Việt Nam v nhiều luận văn chuyn đề đã khẳng định chủ quyền Việt Nam trn hai quần đảo Hong Sa v Trường Sa căn cứ nơi các ti liệu lịch sử, địa lý, đồ bản v pháp lý l khng thể phủ nhận.

Chúng ti xin bổ túc yph mấy tư liệu khác của ngoại quốc v của chính Trung Quốc nhằm củng cố chủ quyền nước ta trn hai quần đảo ấy một cách khách quan v chn thực nhất.

Thái giám Trịnh Hòa vẽ rõ bờ biển Việt Nam

"Trong thời gian 1405-1433, Trịnh Hòa đã bảy lần chỉ huy một hạm đội mạnh () vượt biển xuống Đng Nam Á, sang Ấn Độ Dương, qua Tích Lan (nay l Xri Lanka), Ấn Độ, các nước Ả Rập, vo biển Đỏ v xuống bờ biển Đng Phi" (1). Trịnh Hòa đã ghi ký sự v vẽ bản đồ cuộc hnh trình đại ny. Trịnh Hòa yph hải đồ vẽ yph tục cuộc hnh trình trn mấy trăm trang giấy bản rất cng phu.

Chúng ti xin trích dẫn sơ đồ vẽ bờ biển v các hải đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, khi ấy ghi l Giao Chỉ quốc v biển Đng ghi l Giao Chỉ dương. Sơ đồ ny vẽ khá rõ từ bin giới Việt Trung qua cửa khẩu yph Hồng, xui bờ biển miền Trung tới cửa khẩu Quy Nhơn, Trịnh Hòa ghi l Tn Chu cảng. Trịnh Hòa mặc nhin thừa nhận Giao Chỉ dương tức l biển Đng v các đảo nằm trong đó đều thuộc chủ quyền Giao Chỉ quốc tức nước Đại Việt ta (có trích bản đồ Trịnh Hòa đính km).

 

Trích sưu tập Trịnh Hòa yph hải đồ, 2 trang 11b v 12a, vẽ Biển Đng từ bin giới hải phận Việt-Trung tới cửa khẩu Quy Nhơn

Những bản đồ Bồ Đo Nha đầu tin vẽ bờ biển Việt Nam về Hong Sa Trường Sa

Nh yph hải Bồ Đo Nha Vasco de Gama (1469-1524) l người đầu tin tìm đường sang Á Đng vòng qua mũi Hảo Vọng (Cap de Bonne Esprance) ở cực Nam chu Phi. Đó l năm 1497. Bồ Đo Nha đặt nhiều thương điếm ở Ấn Độ (như Goa) v Mã Lai (Malacca). Nh yph hải Tom Pires tiếp nối hnh trình, đi từ Malacca năm 1512 ngược ln phía bắc quan sát bờ biển v hải đảo các nước Campuchia, Chămpa, Giao Chỉ (tức Đại Việt m bin cương mới tới Quy Nhơn), Trung Quốc, Nhật Bản

Ngay từ đó, các nh yph hải Bồ Đo Nha đã thấy: "Quần đảo Paracel l một bãi đá ngầm nằm suốt từ nam ra bắc ở bờ biển xứ Đng Trong di 92 hải lý (1 hải lý di 5km556, cả thảy di 511km152) từ vĩ tuyến 12.11 tới vĩ tuyến 16.45C từ ngoi khơi Vũng Tu đến Thừa Thin Huế v rộng 20 hải lý tức 111km120" (2).

Các bãi đá tập trung ở phía bắc ta gọi l Hong Sa, Ty phương gọi l Paracel hay Pracel nay Trung Quốc gọi l Ty Sa; ở phía nam ta gọi l Trường Sa, Ty phương gọi l Spratly, nay Trung Quốc gọi l Ty Sa. Trn bờ biển từ Thừa Thin xuống Quy Nhơn, các bản đồ ngoại quốc Ty phương đều ghi l Costa da Paracel (bờ biển Hong Sa).

Những bản đồ Bồ Đo Nha đó l: Diego Ribeiro 1527, Bartholomeu Velho 1560, Liveo da Marinharia 1560, Lazaro Luis 1563, Bartholomeu Lasso 1590, Fernão Vaj Dourado 1590, Petrus Plancius 1592, Foão Teixeira 1630,. Ngoi Bồ Đo Nha còn những bản đồ Ty phương khác cũng ghi về Hong Sa Trường Sa mặc nhin l của Việt Nam, như: Abraham Ortelius 1567, Ludovico Georgio 1584, Joan Martines 1591, Linschoten 1595, Jodocus Hondius 1606, Blacu 1635, Thevenot 1664, Dudley 1665, John Seller 1675, Placide 1686, Blaeu Legacy 167. Đó l chưa kể: Van Langren 1595, Mercator 1613, Berthelot 1635, Antonio Sanchej 1641, Enda Vorrtgangh 1646, Guilio Blaen 1663

Chính quyền thuộc địa Pháp đã cho khảo sát, vẽ rõ yph v chi tiết Biển Đng (Quốc tế gọi l Mer de Chine) v tất cả quần đảo v đảo lớn nhỏ nằm trong đó. Đáng kể nhất l Bản đồ quần đảo Hong Sa (Archipel des Paracels d'aprs les levs allemands 1881-1885 et les travaux anglais et franais les plus rcents. Service hydrographique de la Marine. Paris 1885. Mars 1840 (3 yphoon). Vậy l có cả người Đức v người Anh nghin cứu Hong Sa Trường Sa trước người Pháp.

Năm 1701, các giáo sĩ Hội thừa sai Paris (MEP) đi trn tu Amphitrite sang Trung Hoa, đã kể lại: "Chúng ti gặp quần đảo Paracel l quần đảo thuộc chủ quyền đế quốc An Nam" (Le Paracel est un archipel qui yphoo de l'Empire d'Annam).

Tác giả người Trung Quốc Ngụy Nguyn vẽ rõ hai quần đảo Hong Sa Trường Sa l của Việt Nam

Năm 1842, Ngụy Nguyn cho xuất bản tác phẩm Hải quốc đồ chí. Sách ny gồm 60 quyển, m tả khắp các nước năm chu bốn biển. Trong quyển 9, tờ 4 (2 trang), Ngụy Nguyn ghi bn tay phải Đng Nam Dương các quốc din cách đồ v vẽ sơ đồ nước Việt Nam chia ra 3 phần: Việt Nam Đng đ (H Nội), Việt Nam Ty đ (Thanh Nghệ) v Quảng Nam (Đng Trong). Ngoi khơi Việt Nam có ghi rõ Đng Dương đại hải.

Bn ngoi Thuận Hóa cảng khẩu, có những chấm nhỏ li ti mang tn Vạn Lý Trường Sa (chúng ta nhận diện l quần đảo Hong Sa). Bn ngoi bờ biển Việt Nam Ty đ cũng có những chấm li ti nhưng ít hơn mang tn Thin lý thạch đường (chúng ta nhận diện l quần đảo Trường Sa). Hai quần đảo ny hon ton nằm trong Đng Dương Đại Hải tức thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngụy Nguyn khng hề biết gì đến Ty Sa hay Nam Sa!

Chính quyền Pháp ở Đng Dương đặt hai đi khí tượng trn Hong Sa v Trường Sa

Năm 1927, Pháp đặt một trạm khí tượng hạng nhất (station mtorologique de 1er ordre) tại đảo Pattle (Hong Sa) v một trạm phong vũ biểu trn đảo Itu Aba (tức đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa). Đó l hai đi khí tượng nằm trong hệ thống được quốc tế thừa nhận (3).

Tóm lại, hai quần đảo Hong Sa-Trường Sa yph tục thuộc chủ quyền Việt Nam từ 500 năm nay, khng chỉ do những tư liệu lịch sử Việt Nam m cả những cứ liệu quốc tế cũng đều khẳng định.

(1) Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 4, Nxb Từ điển Bách khoa H Nội, 2005, tr.596.
(2) PY Manguin, Les Portugais sur les ctes du
Vietnam, PEFEO, Paris, 1972, tr.43-44.
(3) Bruzon, Carton, Romer, Le climat de l'Indochine et les yphoons de la Mer de Chine,
Hanoi, 1930

NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU Nh sử học N.Đ.Đ. (Tạp chí Xưa v Nay số 298, tháng 12/2007)

 

Việc thực thi chủ quyền tại Trường Sa v Hong Sa dưới triều Nguyễn

 

Năm 1816, vua Gia Long ban lệnh cho thủy qun với sự hướng dẫn của dn binh đội Hong Sa đi xem xt, đo đạc thủy trình ở quần đảo Hong Sa khi ấy bao gồm cả Trường Sa (

Đại Nam Thực Lục Chính Bin

, đệ nhị kỷ, quyển 52).

Chính hoạt động lần đầu tin của thủy qun ny đã đánh dấu mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập v thực thi chủ quyền của Việt Nam trn quần đảo Hong Sa, nn đã khiến cho những người phương Ty như Chaigneau hay sau ny l Taberd khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của mình như đã nói trn.

Thực ra sự kiện năm 1816 chỉ đánh mốc l hong đế Gia Long sử dụng thủy qun thay vì chỉ có đội Hong Sa xem xt, đo đạc thủy trình, khai thác hải vật như trước.

Thời nh Nguyễn, nhất l từ thời Minh Mạng, đã thnh lệ, hằng năm thủy qun đều ra Hong Sa, Trường Sa để vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, v tiến hnh các hoạt động khác trn quần đảo Hong Sa v Trường Sa...

Lực lượng thủy qun lm nhiệm vụ xác lập v thực thi chủ quyền ny l một 뱇ực lượng đặc nhiệm gồm kinh phái, tỉnh phái v dn binh địa phương trong có dn binh đội Hong Sa. Kinh phái - đứng đầu l thủy qun cai đội hay thủy qun chánh đội trưởng chỉ huy hợp cng với lực lượng thủy qun lấy trong vệ thủy qun đóng ở kinh thnh hay ở cửa Thuận An.

Ngoi thủy qun kinh phái còn các vin giám thnh trong vệ giám thnh, l những chuyn vin vẽ bản đồ như đã trình by ở trn. Tỉnh phái l các vin chức ở tỉnh Quảng Ngãi có nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong cng tác hướng dẫn, cung cấp dn cng, lo xy dựng, đồng thời còn điều động dn binh ở tỉnh Quảng Ngãi. Có khi gồm cả dn binh tỉnh Bình Định như trong các chuyến cng tác năm 1835 v 1837.

Nhiệm vụ của 뱇ực lượng đặc nhiệm lun được hong đế Việt Nam theo sát v ra chỉ dụ cụ thể, nhất l dưới triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị. Điều ny cho thấy nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm ny quan trọng đến chừng no.

Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc lm cụ thể của từng chuyến đi. Tỷ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Cng tu trình ln Vua về chuyến vãng thám Hong Sa của thủy qun chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng ph sửa (chu cải): 밄áo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tn ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận bin v rồi vua Minh Mạng lại ph (chu ph): 밫huyền no đi đến đu, cắm mốc tới đó để lưu dấu.

Chính vua Minh Mạng cũng theo dõi các chuyến đi cng tác Hong Sa bao gồm Trường Sa v đã nhiều lần ra chỉ dụ thưởng phạt. Thường dn binh đội Hong Sa Quảng Ngãi, Bình Định lun được thưởng 1 hay 2 quan tiền v miễn thuế về sự cực khổ vất vả theo đon. Còn các vin chỉ huy như cai đội, chánh suất đội, các vin chức tỉnh phái m chậm trễ đều bị tội.

Dưới triều vua Minh Mạng, thủy qun mới được tổ chức thật quy củ, ngoi nhiệm vụ đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn phải cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hong Sa v Trường Sa. Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6 đã ghi chp rằng trước năm Minh Mạng thứ 16, nh vua sai qun lính ra dựng bia đá lm dấu đã thấy phía Ty Nam đảo có ngi cổ miếu, khng biết kiến thiết vo thời đại no v có bia khắc bốn chữ 밮ạn Lý Ba Bình. Như thế trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu cha rồi.

Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Cng sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền. Đại Nam Thực Lục Chính Bin đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chp rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Cng tu vua cứ hằng năm cử người ra Hong Sa bao gồm Trường Sa ngoi việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, còn cắm cột mốc, dựng bia. Tập tấu của Bộ Cng ngy 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời chu ph của vua Minh Mạng cũng đã nu rõ: 밠ỗi thuyền vãng thám Hong Sa phải đem theo 10 tấm bi gỗ (cột mốc) di 4, 5 thước, rộng 5 tấc.

Đại Nam Thực Lục Chính Bin, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rất rõ: 밮ua Minh Mạng đã y theo lời tu của Bộ Cng sai suất đội thủy qun Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bi gỗ dựng lm dấu mốc. Mỗi bi gỗ di 5 thước rộng 6 tấc v dy 1 tấc, mặt bi khắc những chữ: 밠inh Mạng Thập Thất Nin Bính Thn thủy qun chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hong Sa tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b) (Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thn, thủy qun chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vng mệnh ra Hong Sa xem xt đo đạc, đến đy lưu dấu để ghi nhớ).

Mỗi năm, cột mốc đều khắc rõ nin hiệu, năm, chức vụ, họ tn vin chỉ huy 뱇ực lượng thủy qun đặc nhiệm, được phụng mệnh ra Hong Sa v ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ tính sử sách có ghi rõ tn những người chỉ huy đội thủy qun đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng như cai đội thuyền Phạm Văn Nguyn năm Minh Mạng thứ 16 (1835), chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10 bi gỗ. Mỗi năm 4 - 5 thuyền có thể cắm mốc tối đa 40 - 50 cột mốc tại các đảo, song rất khó tổng kết trn thực tế cắm cột mốc được tất cả bao nhiu đảo.

Các vị vua chúa Việt Nam, nhất l thời vua Minh Mạng cũng rất quan tm đến việc dựng cha miếu v trồng cy tại quần đảo Hong Sa v Trường Sa. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tu của Bộ Cng cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hong Sa một gian theo thể chế nh đá.

Việc dựng miếu ny theo Đại Nam Thực Lục Chính Bin đệ nhị kỷ, quyển 154, cho biết rõ năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đã khng thực hiện việc xy dựng miếu như dự kiến m đến mãi đầu tháng 6 ma hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng đã cử cai đội thủy qun l Phạm Văn Nguyn đem lính v giám thnh cng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyn chở vật liệu đến dựng miếu cách tòa miếu cổ 7 trượng. Bn trái miếu, phía trước miếu xy bình phong. Mười ngy lm xong việc chứ khng như các đon khác có nhiệm vụ lu di hơn.

Thường ba mặt miếu Hong Sa (bn trái, bn phải v đằng sau) đều trồng các loại cy. Ý của vua Minh Mạng sai trồng cy xuất phát từ chỗ thuyền bun qua vng ny thường gặp nạn, vì vậy trồng cy cốt lm dấu dễ nhận ra đảo m tránh tình trạng thuyền bị tai nạn đm vo đảo...

Theo Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thng, thì các qun nhn đến đảo thường đem những hạt quả thủy nam m rải ở trong v ngoi miếu. Cy trồng ở Hong Sa v Trường Sa chủ yếu trồng bằng cách gieo hạt, quả chứ khng trồng bằng cy con. Điều đó cũng hợp lý vì mang cy con ra biển đi trn thuyền nhỏ như thế cũng khó khăn, khó bảo dưỡng được cy sống để m trồng. Thời gian hoạt động hằng năm của thủy qun vo cuối ma kh, ko di sang ma mưa nhiều tháng trời, rất thuận lợi cho việc gieo hạt trồng cy.

N.N. (Trích từ 밫rường Sa, mảnh đất thing của Việt Nam báo Thanh Nin ngy 1,2,3/1/2008)

NGUYỄN NHÃ Tiến sĩ sử học

Phần I

Sự thnh lập v hoạt động của đội Hong Sa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX

 

TTO - Trước năm 1909, Trung Quốc cũng như các nước khác ở Đng Nam Á khng có bằng chứng no minh chứng họ quan tm đến việc xác lập chủ quyền của họ trn quần đảo Hong Sa v Trường Sa.

Trong khi đó, suốt trong ba thế kỷ từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, một tổ chức dn binh Việt Nam l đội Hong Sa đã hoạt động tại Hong Sa v Trường Sa, vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác ti nguyn ở các hải đảo thuộc Hong Sa, Trường Sa.

Cái ni của đội Hong Sa l xã An Vĩnh ở một bn bờ cửa biển Sa Kỳ thuộc huyện Sơn Tịnh, v phía Bắc l xã An Hải thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Xã An Vĩnh gồm đất liền ở cửa biển Sa Kỳ v phường An Vĩnh. Xã An Hải gồm cả phường An Hải ở c lao R m đến đời Gia Long thứ 3 (1804) mới tách ra. Tại phía Nam cửa biển Sa Kỳ hiện còn di tích Vườn Đồn, nơi l đồn biển Sa Kỳ xưa. Tại đy cũng còn di tích miếu Cá Ông v di tích đình của xã An Vĩnh xưa (nay l thn An Vĩnh, xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi).

Vng cửa biển Sa Kỳ khng có sng chảy ra nn khng có hiện tượng cát bồi, có độ su tương đối tốt để lm cảng (thuyền) thời bấy giờ. Vì thế, hai bn cửa biển thuận lợi cho dn cư sinh sống, nhất l bờ phía Nam, xã An Vĩnh, sống về nghề biển v cả nng nghiệp, cách phủ lỵ Quảng Ngãi gần 30 km. Bờ phía Bắc thuộc xã An Hải, ít tr phú, ít dn cư hơn. Tuy nhin nói chung, dn vng cửa biển Sa Kỳ, cũng như dn C Lao R rất giỏi nghề đi biển xa m thời nay gọi l 뱕iễn dương; họ khng chỉ đi tìm những hải sản quý như hải sm, ốc tai tượng ở vng kế cận c lao R m còn muốn đến những vng biển xa để khai thác.

Hong Sa với đầy ắp những hải vật quý lạ tất sẽ có sức hút họ đi tới đó. Nghề biển ở vng ny còn có được một thuận lợi l dễ dng được cung cấp các vật liệu lm thuyền buồm như tre, lá, gỗ, kể cả gỗ kiền kiền lm cột buồm từ vng rừng núi Quảng Ngãi, Quảng Nam ở cách khng xa.

Về mặt vị trí địa lý, vng Sa Kỳ - c lao R lại l nơi nh ra Biển Đng xa nhất. Do vậy, cũng như dn đất liền thời mở cõi ấy, dn vng ny được chính quyền thời Chúa Nguyễn tín nhiệm giao trọng trách khai khẩn tới đu quản lý tới đó.

Ngoi ra, do hon cảnh lịch sử của xứ Đng Trong, muốn tồn tại, từ thời Nguyễn Hong đã nghĩ đến phát triển giao thương ra biển khơi, tạo điều kiện phát triển mạnh đ thị giao thương quốc tế Hội An với sự có mặt của người Nhật, Trung Quốc, nhất l người phương Ty (m từ đầu thế kỷ XVI họ đã phát triển giao thương về phương Đng, khi thiết lập được các thương điếm từ Malacca đến Macao).

Trận thủy chiến với người H Lan (hợp tác với qun Trịnh) ở gần cửa Thuận An thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyn đã thúc đẩy xứ Đng Trong phải có kế hoạch thường xuyn thu lượm khng những hải sản quý m còn sản vật do đắm tu, nhất l súng ống để tăng cường sức mạnh trong cuộc chiến tranh với họ Trịnh ở Đng Ngoi.

Đó l những lý do khiến c lao R - cửa biển Sa Kỳ l cái ni ra đời của đội Hong Sa.

Về thời gian ra đời của đội Hong Sa, các sử sách Việt Nam v của cả Trung Quốc đều chp đội Hong Sa được thnh lập vo đầu thời chúa Nguyễn. Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (Trung Quốc) viết năm 1696, chp 뱓hời quốc vương trước đã có những hoạt động của đội 밐ong Sa v Phủ Bin Tạp Lục viết năm 1776, chp 밫iền Nguyễn Thị. Đại Nam Thực Lục Tiền Bin (1821) chp 뱏uốc sơ trí Hong Sa.

Tuy nhin việc thnh lập đội Hong Sa phải có trước hoặc trong thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), tức l trước hoặc trong thời điểm ra đời cuốn sách Thin Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (năm 1686), cuốn sách đã bắt đầu chp các hoạt động ở Hong Sa. Đó l khoảng thời gian m các chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), Nguyễn Phúc Nguyn (1613-1635) Nguyễn Phúc Tần cai trị.

Ngoi ra, như ta đã biết ở trn, Phủ Bin Tạp Lục cũng như các ti liệu khác đều cho biết đội Hong Sa khi trở về đất liền vo tháng tám m lịch vo cửa Eo hay Tư Hiền rồi nộp sản vật tại chính dinh ở Phú Xun. Từ thời Nguyễn Phúc Nguyn tuy khng còn ở Ai Tử, Quảng Trị nữa m mới vo vng Phước Yn, Quảng Điền, bn bờ sng Bồ, chi nhánh của sng Hương, song chính dinh chưa tới Phú Xun. Thời chúa Nguyễn Phúc Lan mới bắt đầu dời chính dinh đến Kim Long vo năm Dương Hòa năm đầu (1635) v thời chúa Nguyễn Phúc Tần mới dời qua Phú Xun.

Như thế, chúng ta có cơ sở để kết luận đội Hong Sa ra đời sớm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), hay chắc chắn hơn l từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), bởi chính vo thời kỳ ny, các thuyền của đội Hong Sa mới đi vo cửa Eo (Thuận An ) v nộp sản vật tại chính dinh Phú Xun. Nhưng d ở thời Chúa Nguyễn no thì thời điểm lập ra đội Hong Sa cũng chắc chắn ít ra l vo nửa đầu thế kỷ XVII, hoặc nói như sử sách vo đầu thời chúa Nguyễn.

Đội Hong Sa đã hoạt động kể từ chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kỳ chúa Nguyễn, cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi. Phong tro Ty Sơn nổi dậy, Chúa Nguyễn chạy vo đất Gia Định thì đội Hong Sa đặt dưới quyền kiểm soát của Ty Sơn m trong ti liệu còn lưu giữ tại nh thờ họ Võ tại phường An Vĩnh, c lao R đã cho biết năm 1786 tức Thái Đức năm thứ 9, dn c lao R đã xin chính quyền Ty Sơn cho đội Hong Sa hoạt động trở lại.

Đến những năm cuối cng của Ty Sơn, hoạt động của đội Hong Sa cũng bị ảnh hưởng, nn đến khi Gia Long năm thứ 2 (1803) mới cho đội Hong Sa hoạt động trở lại như Đại Nam Thực Lục Chính Bin, quyển XXII đã ghi rõ: 밹ai cơ Võ Văn Phú lm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dn ngoại tịch lập lm đội Hong Sa. Năm 1815, vua Gia Long sai đội Hong Sa đi đo đạc thủy trình ở Hong Sa.

Từ năm 1816, vua Gia Long bắt đầu cử thủy qun cng với đội Hong Sa lo việc kiểm soát, đo đạc thủy trình ở Hong Sa. Đội Hong Sa trở thnh tổ chức mang tính dn sự nhiều hơn. Theo truyền thống, dn c lao R vẫn tiếp tục đi biển trong đó có vng Hong Sa có nhiều sản vật quý. Khng có một văn bản no ghi lại việc quyết định bãi bỏ đội Hong Sa ngoi Việt Sử Cương Giám Khảo Lược soạn năm 1877 của Nguyễn Thng cho biết đội Hong Sa bị bãi bỏ từ lu, trước năm soạn cuốn sách ny (1877).

Thời Tự Đức, người ta khng thấy bin nin sử còn chp các hoạt động của đội Hong Sa, vì theo phm lệ của Đại Nam Thực Lục đệ tứ kỷ chp vo đời Tự Đức, những việc thnh lệ thường khng được chp nữa m thi. Những hoạt động của đội Hong Sa cũng như thủy qun từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) đã trở thnh lệ thường, như đã chp trong sách Khm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ.

Tóm lại tuy khng biết thời gian chính xác đội Hong Sa đã ngưng hoạt động, chỉ biết vo năm 1877, khi Nguyễn Thng viết sách Việt Sử Cương Giám Khảo Lược thì đội Hong Sa đã bị bãi bỏ từ lu rồi. Từ năm 1816, thủy qun đã đảm trách những việc xem xt, đo đạc thủy trình, khng còn giao phó hon ton cho đội Hong Sa như trước nữa.

Về mặt tổ chức, phin chế đội ngũ, đội Hong Sa l một tổ chức dn binh vừa mang tính dn sự vừa mang tính qun sự, vừa mang tính tư nhn vừa mang tính nh nước, vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý thời ấy ở Biển Đng, ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn trong hon cảnh tay cầm cuốc, tay cầm gươm để mở đất khai hoang m người đứng đầu đơn vị hnh chánh lớn nhất l chưởng dinh. Cần có dinh lũy để vừa cai quản về hnh chánh, khai hoang vừa chỉ huy qun sự sẵn sng chiến đấu.

Đy l một tổ chức đặc biệt ở Đng Trong cũng như những tổ chức khác dưới triều Nguyễn như các sở đồn điền khẩn hoang, m đứng đầu mỗi đồn điền l một quản cơ. Thời chúa Nguyễn, theo Phủ Bin Tạp Lục của L Quý Đn quyển 3, có nhiều tổ chức dn binh như đội thủ ngự (đội coi về Tuy l dn binh nhưng đội cũng được tổ chức theo hình thức tổ chức qun sự của Đng Trong.

Theo binh chế ở Đng Trong, ngoi chính binh (tinh binh còn gọi l nội binh), các quan trấn thủ, lưu thủ ở địa phương thường lấy dn địa phương lm binh canh giữ các nơi, gọi l ngoại binh (binh ấy còn gọi l thổ binh hoặc tạm binh, hoặc thuộc binh). Số binh ny rất đng, gấp mấy lần chánh binh m lại khng được trả lương tháng như chánh binh, họ chỉ được miễn sưu thuế m thi. Phin chế gồm: dinh, cơ, đội, thuyền. Thuyền l đơn vị thấp nhất. Mỗi đội gồm từ 40 đến 60 người. Điều khiển đội có cai đội v đội trưởng.

Đứng đầu đội Hong Sa cũng l một cai đội; những thnh vin trong đội được gọi l qun nhn, điều ny đã thể hiện tính qun sự hóa nu trn. (L Quý Đn trong Phủ Bin Tạp Lục cũng gọi những người trong đội Hong Sa l qun nhn, v ng cũng ghi nhận một trường hợp 2 người bị tri dạt vo cảng Thanh Lan (Hải Nam) v tám người khác bị mất tích khi bị bão vo năm Cn Long thứ 17 (1754)). Vì thế có dịch giả phương Ty dịch đội Hong Sa l 밹ompagnie Hong Sa, v phải hiểu l một tổ chức qun đội, chứ khng phải l tổ chức hội bun, mới đúng.

Người chỉ huy đội Hong Sa l cai đội phải l vị quan lớn như cai đội Thuyn Đức Hầu (được phong tước 밾ầu) đã được L Quý Đn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhm Ngọ) đến 1713 (Quý Tỵ). Hoặc như cai đội Phú Nhuận Hầu cũng thế, trong tờ trình ngy 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đã kim lun chức khm sai cai thủ cửa biển Sa Kỳ v cai cơ thủ ngự (tờ k trình của Phú Nhuận Hầu được lưu giữ tại nh thờ họ Võ, phường An Vĩnh, nay l thn Ty, xã An Vĩnh (nay l Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn) tỉnh Quảng Ngãi. Khm sai cai thủ l chức trng coi cửa biển, thủ ngự l tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn.

Thời Chúa Nguyễn mỗi năm lấy 70 suất đinh để lm những nhiệm vụ của đội Hong Sa theo php tuyển như trn, song còn dựa vo khả năng đi biển m tuyển chọn. Số lượng 70 l số lượng đặc biệt cho một đội dn binh như đội Hong Sa. Những qun nhn ny chủ yếu l dn gốc xã An Vĩnh v một phần l dn xã An Hải ở đất liền v ngoi đảo c lao R. Trong hầu hết các sử liệu chỉ nói đến xã An Vĩnh, chỉ ring Việt Sử Cương Giám Khảo Lược, quyển 4 của Nguyễn Thng l nói đến hai hộ An Hải v An Vĩnh tức hai phường An Vĩnh v An Hải ở đảo Lý Sơn hay c lao R.

Theo lời truyền miệng của dn địa phương c lao R để lại, việc tuyển lựa 70 suất của đội Hong Sa theo nguyn tắc định suất cho các dòng họ. Song cụ thể vẫn l theo lệ bổ tuyển qun nhn thời Chúa Nguyễn. Những người gọi l qun nhn ấy được tuyển theo hệ thống xã, huyện, phủ. Do phải lun phin, nn hng năm các đội Hong Sa phải lo điều chỉnh qun số sao cho đảm bảo lệ ny.

Về mặt quyền lợi, ngoi việc được miễn sưu thuế, họ còn được hưởng phần dư, phần còn lại ngoi số sản vật thu được phải nộp cho nh nước theo quy định. Lương thực mang đi cho 6 tháng được nh nước cấp phát. Song chủ yếu l gạo, còn thức ăn phần lớn họ phải tự bắt cá, bắt chim ở các đảo để sống. Họ phải mang theo củi lửa. Đời sống của qun nhn trong đó có đội Hong Sa thời chúa Nguyễn khả quan hơn đời sống của người dn thời đó.

Ty theo mỗi năm, số thuyền đi từ 4 hay 5 chiếc, có khi đến 18 chiếc. Số lượng 70 suất chia ra ở các thuyền, như vậy mỗi thuyền thng thường có khoảng 10 người. Mỗi chiếc thuyền do chủ thuyền hay thuyền trưởng cai quản.

Về lịch hoạt động ở ngoi đảo, theo những ti liệu như Dư Địa Chí, Hong Việt Địa Dư Chí, Đại Nam Thực Lục Tiền Bin, Đại Nam Nhất Thống Chí, hng năm đội Hong Sa bắt đầu đi từ tháng 3 m lịch đến tháng 8 m lịch thì về. Theo Thin Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ thì lúc đi cuối Đng, khng nói thời gian về; v theo Phủ Bin Tạp Lục thì thường đi vo tháng ging m lịch đến tháng 8 về (nếu lương thực mang đi có 6 tháng, chp tháng ging l nhầm).

Từ tháng 3 đến tháng 8 m lịch (tức khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) ở Quảng Ngãi l ma kh, có gió Ty Nam rất thuận lợi cho việc đi biển, nhất l vng Quảng Ngãi lại chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 m lịch (tháng 9 dương lịch đến tháng 12 dương lịch), nhất l hai tháng 9 v 10 m lịch. Như thế việc chọn thời gian hoạt động trn của đội Hong Sa l một lựa chọn rất khn ngoan của tiền nhn. Đến tháng 8 gió Ty Nam yếu, chuyển qua gió Đng Bắc thì thuyền của đội Hong Sa trở về vo cửa Eo để nộp sản phẩm ở chính dinh l đúng lúc, hợp lý nhất.

Hầu hết các ti liệu đều viết tháng ba m lịch đi từ c lao R đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hong Sa l 3 ngy 3 đm. Ring Đại Nam Nhất Thống Chí ghi 3, 4 ngy đm. Thời gian trn đều l thời gian thực tế đối với loại thuyền buồm nhẹ chạy nhanh khởi hnh từ đất liền hay c lao R đến đảo gần nhất thuộc quần đảo Hong Sa. Dĩ nhin trong suốt 6 tháng hoạt động, đội Hong Sa tiếp tục đi khắp nơi, xa hơn, suốt các đảo từ phía Bắc. Ring các hòn đảo xa phía Nam, ở cuối quần đảo Trường Sa hiện nay l Cn Đảo, H Tin thì đã có đội Bắc Hải phụ trách v cũng lệ thuộc vo đội Hong Sa.

Hong Sa v Trường Sa nằm trong khu vực có nhiều bão tố, nn điều kiện lúc bấy giờ khng cho php trú cả năm m phải theo ma. Như thế, quá trình hoạt động của đội Hong Sa cũng l quá trình xác lập v thực thi chủ quyền Việt Nam trn quần đảo Hong Sa v Trường Sa, ko di từ đầu thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX v theo luật lệ rõ rng của nh nước Việt Nam.

NGUYỄN NHÃ

Phần II:

Phương tiện v trang bị của đội Hong Sa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX

 

Đội Hong Sa sử dụng các loại thuyền buồm nhẹ v nhanh. Theo J. Barrow viết trong A voyage to Cochinchina thì các tu thuyền xứ Đng Trong dng vo việc bun bán ven biển, chi lưới thu lượm hải sản v tổ yến trong nhóm quần đảo gọi l Paracels thuộc nhiều kiểu dạng khác nhau.

Cũng theo cuốn du ký Suma Oriental của Tom Pires người Bồ Đo Nha, được A. Cortesas dịch với nhan đề The Suma Oriental, an account of the East, from the Red Sea to Japan, xuất bản tại London năm 1944, khoảng những năm 1513 - 1514 kể lại cuộc hnh trình v những nhận xt của tác giả về các miền đất đã đi qua ở Phương Đng từ Biển Đỏ cho tới Nhật Bản, trong đó có tả vương quốc Cauchy - chyna tức Đng Trong nước Đại Việt thời L - Mạc. Tác giả cho biết có rất nhiều cư dn khai phá vng bờ biển với một số lớn các 뱇ancharas, một loại thuyền buồm đi nhanh.

Trong các ti liệu cổ của Việt Nam đã dẫn trn cho biết đội Hong Sa cho năm chiếc thuyền cu nhỏ gọi l 뱓iểu điếu thuyền (Phủ Bin Tạp Lục) hay 뱓iểu thuyền (Dư Địa Chí v Hong Việt Địa Dư Chí). Thích Đại Sán trong Hải Ngoại Kỷ Sự, cũng viết 밫hời quốc vương trước, hng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vng bạc khí cụ của các thuyền bun tấp vo. Ma thu nước ròng cạn, chảy rút về hướng Đng, bị một ngọn sóng đưa thuyền đi có thể tri xa cả trăm dặm; sức gió dng mạnh, sợ có hiểm họa Trường Sa....

Thích Đại Sán cũng nói thuyền đánh cá ấy gọi l thuyền điếu xá. Chính chúa Nguyễn Phúc Chu cũng đã cho thuyền điếu xá (thuyền đánh cá) đón tiếp đệ tử v vật phẩm của Thích Đại Sán đến sau tại đảo Tin Bích Sa (c lao Chm). Khi Thích Đại Sán rời Quảng Đng đi bằng loại thuyền lớn, chứa tới bốn trăm người phải dng cả 2 chiếc thuyền nhỏ dẫn đường. Tuy thuyền đi mau như bay nhưng có lần bị mắc cạn, có lần suýt bị nạn vì khng theo lối thuyền con chỉ dẫn.

Thuyền đánh cá thế kỷ XVII, XVIII ở nước Đại Việt được lm giản dị nhất l ở khu vực Sa Kỳ, c lao R. Theo ti liệu được lưu lại ở đảo c lao R m ng Nguyễn Hạp xuất thn từ gia đình ngư dn lu đời ở c lao R đã vẽ, thì thuyền loại ny có m hay đáy dưới bằng tre đan, trát phn tru, rồi qut dầu rái ln. Song phía trn thnh thuyền lm bằng gỗ chò hay sao, có 3 cột buồm bằng gỗ kiền kiền v các bộ phận khng quan trọng như các then thì lm bằng gỗ m u có sẵn ở địa phương. Chính dn chi tự đóng thuyền lấy. Tuy nhỏ song lại nhẹ dễ chạy nhanh v thường chạy bằng buồm, có loại buồm như Thích Đại Sán kể giống chiếc rìu.

Nhỏ, nhẹ, ít người lại chọn thời điểm thuận gió thì thuyền đi nhanh gấp 10 lần như Thích Đại Sán ghi chp như trn. Thường thuyền ở vng c lao R - Sa Kỳ có 3 cánh buồm đan bằng lá, các dụng cụ như lu chứa nước đều bằng tre. Gần đy ở c lao R còn thấy một vi thuyền đánh cá có cấu trúc tương tự như những thuyền truyền thống xưa của vng ny, đi biển xa như Hong Sa.

Sự thực lịch sử đã cho biết các thuyền đánh cá Việt Nam với vật liệu nhẹ như trn, nhỏ b đã dễ dng n tránh các đá san h cũng như dễ dng cập được vo bờ các đảo san h ở Hong Sa v cũng thích hợp hon cảnh dn chi biển vng Sa Kỳ - c lao R, đã hon thnh sứ mạng lịch sử của mình.

Địa bn hoạt động của đội Hong Sa có khng gian rất rộng. Khởi đầu l những đảo gần bờ biển nhất. Song trong 6 tháng hng năm từ năm ny qua năm khác, đội Hong Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san h ở biển Đng gồm quần đảo Hong Sa v kim quản đội Bắc Hải ở Trường Sa by giờ.

Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Lim Chu, Hải Nam (Trung Quốc) thì các đảo ở phía Nam tiếp tới l Cn Ln, H Tin. D chính đội Hong Sa khng đi khắp nơi song do kim quản các đội khác (như đội Bắc Hải) nn nó l đầu mối thu tóm mọi hoạt động trong phạm vi rất rộng: khắp các đảo biển Đng chạy di ngoi khơi dọc các tỉnh miền Trung bộ Việt Nam, khoảng Quảng Trị, Thừa Thin, từ phía Ty Nam đảo Hải Nam xuống tới vng Trường Sa hiện nay.

Về nhiệm vụ, đội Hong Sa cần phải lm những cng việc sau: (1) thu lượm các sản vật từ các tu đắm, các hải sản quý từ vng biển phía Bắc quần đảo Hong Sa (phía Nam tức phần Trường Sa hiện nay do đội Bắc Hải phụ trách) v (2) kim quản, trng coi đội khác cng lm nhiệm vụ song ở địa bn khác như đội Bắc Hải ở phía Nam (Phủ Bin tạp Lục, quyển 2, Đại Nam Thực Lục Tiền Bin quyển 10, Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6).

Ngoi ra, về sau còn đảm trách đi xem xt, đo đạc thủy trình vng quần đảo Hong Sa. Nhiệm vụ ny bắt đầu thời Gia Long mới được ghi (Đại Nam Thực Lục Tiền Bin đệ nhất kỷ, quyển 50, quyển 52). Ring về nhiệm vụ dọ thám, canh giữ ngoi biển, trình báo về các bọn cướp biển thì đơn xin phường An Vĩnh tách khỏi xã An Vĩnh ngy 1 tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804) đã đề cập đến ở trn đy, chứng tỏ người dn đã tha thiết tự thấy có nhiệm vụ ny.

Đương nhin khi dn binh tình nguyện thì nh nước dễ chấp nhận vì nh nước khng phải tốn cng đứng ra tổ chức, vả lại tính chất bán qun sự của đội Hong Sa đương nhin ph hợp với nhiệm vụ ny. Như thế nhiệm vụ của đội Hong Sa rất nặng nề, khng thuần túy về kinh tế, khai thác ti nguyn m còn lm cng tác qun sự v quản lý biển đảo. Cng việc ny rất quan trọng trong thời các chúa Nguyễn v thời kỳ đầu nh Nguyễn.

Trong cng việc khai thác ti nguyn, đội Hong Sa đã thu lượm nhiều hải vật quý lạ ở Hong Sa như hải sm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn như chiếc chiếu, bụng có chu ngọc lớn như ngón tay trẻ em, sắc đục khng bằng sắc con trai chu song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dng vỏ ốc lm thnh vi; có thứ ốc x cừ, người ta có thể dng để dát các đồ dng; có con đại mạo hay đại mội, tức con đồi mồi rất lớn hay con hải ba (ba ba biển tục gọi l con trắng bng, cũng giống như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn). Những hải sản quý trn tuy cũng có nộp cho nh vua theo quy định, song vẫn cho đội Hong Sa bán, thường thì bán cho thị trường Hội An - nơi tiu thụ nhiều v có giá hơn.

Quan trọng hơn l các hng hóa từ các tu đắm m Toản Tập Thin Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư viết rằng hng hóa thu được phần nhiều l vng bạc, tiền tệ, súng ống. Phủ Bin Tạp Lục thì ghi: những đồ hải vật như gươm v ngựa bằng đồng hoa bạc, tiền bạc, vng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ng voi, sáp ong, đồ sứ.

L Quý Đn hồi lm Hiệp Trấn Thuận Hóa trong Phủ Bin Tạp Lục có cho biết, trong sổ bin của cai đội Thuyn Đức Hầu, người chỉ huy đội Hong Sa trong nhiều năm, đã vo Phú Xun nộp các sản vật thu lượm được từ Hong Sa cụ thể như sau:

- Năm Nhm Ngọ (1702), đội Hong Sa lượm được 30 thoi bạc.

- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được 5100 cn thiếc.

- Năm Ất Dậu, lượm được 126 thoi bạc.

Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), tức l trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi v hải sm. Cũng có lần họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá v hai khẩu súng đồng. Chính P. Poivre viết trong du ký năm 1750 rằng: 밡gười ta đã thấy ở đ thnh Huế những khẩu súng thần cng bằng sắt cỡ đạn 6 livres, có trang trí chữ ghi của Cng ty Đng Ấn H Lan, những khẩu súng ny đã thu lượm được ở quần đảo Paracels, trong số các di vật của các tu đi qua đy bị đắm (Journal R.E.O, III, 1885).

Chắc chắn trong thời còn chiến tranh, súng đạn thu được ở các tu đắm ở Hong Sa l rất quý giá. Việc đi biển xa (viễn dương) khiến các thnh vin đội Hong Sa rất giỏi đi biển. Từ thời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị thủy qun hoạt động mạnh ở Hong Sa cũng đều nhờ những người hướng dẫn hải trình l những dn đi biển giỏi trong đó có dn binh đội Hong Sa. Chính vì thế, các thuyền thuộc lực lượng thủy qun triều Nguyễn từ kinh thnh Huế trước khi ra Hong Sa phải tới tập trung ở Quảng Ngãi.

밚ính Hong Sa đi dễ, khó về

Với nhiệm vụ nặng nề, cng việc nguy hiểm, biển khơi ẩn chứa nhiều tai họa khó lường trong khi phương tiện thời đó lại khá th sơ, những người lính trong đội Hong Sa thời đó hầu như thường phải đối mặt với sự hy sinh, với cái chết. Chính vì vậy nn ngoi lương thực, nước uống, họ còn mang theo một đi chiếu, 7 sợi dy my (hay cy r), 7 cái đòn tre.

Nếu chẳng may có mệnh một ở giữa biển thì dng chiếu ấy quấn xác, đòn tre dng lm nẹp v lấy dy my bó lại rồi thả xuống biển. Chiếc thẻ tre nhỏ ghi rõ tn tuổi, qu quán, phin hiệu đơn vị của người mất được ci kỹ trong bó chiếu, cũng l dấu hiệu nhận biết nếu có ai vớt được. Quả thật họ đúng l những chiến sĩ dũng cảm, vì nước qun thn, được nhn dn lun tn vinh, tưởng nhớ.

Tại xã An Vĩnh, nay thuộc thn An Vĩnh, xã Tự Kỳ hiện còn di tích một ngi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳ l ngi miếu Hong Sa thờ lính Hong Sa v thờ bộ xương con cá voi (tương truyền do binh Hong Sa đưa từ Hong Sa về) - ngi miếu ny bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh v bộ xương cá voi thần linh ở miếu ny được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngi miếu xưa.

Tại c lao R hiện vẫn còn Âm Linh Tự tức miếu Hong Sa, ở thn Ty xã Lý Vĩnh, tức phường An Vĩnh xưa v Âm Linh Tự ngoi trời ở xã Lý Hải tức phường An Hải xưa. Cũng tại xã An Vĩnh v cả lng An Hải (cả đất liền lẫn ngoi đảo c lao R) có tục tế đình v lm lễ khao qun tế sống để tiễn lính đội Hong Sa ln đường lm nhiệm vụ hng năm vo ngy 20 tháng 2 m lịch, tại các đình lng. Hiện nay chỉ còn đình lng xã Lý Hải, tức phường An Hải xưa.

Lính Hong Sa được tế sống vì nhiệm vụ quá nguy hiểm: 뱇ính Hong Sa đi dễ khó về. Trừ các chỉ huy như đội trưởng, thuyền trưởng, các lính thường lấy trai tráng chưa có gia đình, vừa khỏe mạnh vừa khng vướng vợ con. Tại thn An Vĩnh thuộc xã Tự Kỳ hoặc tại đảo c lao R có nhiều gia đình còn gia phả v bn thờ những người đi lính Hong Sa như nh ng Phạm Quang Tỉnh ở thn Đng, xã Lý Vĩnh có nh thờ (hình 2. 54) v gia phả ng tổ Phạm Quang Ảnh, người được vua Gia Long cử lm đội trưởng đội Hong Sa năm 1815.

Trong buổi tế sống lính Hong Sa đó, họ lm những hình nộm bằng khung tre v dán giấy ngũ sắc để giả hình người v đem tế tại đình. Tế xong họ đốt đi, hoặc đóng thuyền bằng thn cy chuối đặt hình nộm ln v thả tri ra biển gọi l 뱆hao lễ thế lính Hong Sa còn gọi l 뱇ễ tế sống lính Hong Sa với quan niệm các hình nộm kia sẽ gánh chịu mọi hiểm nguy, tai nạn trn biển thay cho đội Hong Sa v cầu mong cho người thn của họ bình an trở về.

Ngy nay tại các nh thờ tộc họ có người đi lính Hong Sa đều có tổ chức tục lễ như thế v hiện tại gia đình các tộc họ cũng còn giữ bi Văn khao thế lính Hong Sa gồm một nửa chữ Hán, một nửa chữ Nm có đoạn: Ngy hm nay (hoặc đm nay, buổi sáng nay) có theo ý người ở tỉnh nước Đại Nam, xin cúng thế một cỗ thuyền m hình, tri theo đường thủy Hong Sa, mấy cỗ bn, vng bạc, đáp lễ thần quan, xin dng ln khảo thủy đạo một tiệc, thnh kính by lễ la liệt... Văn tế do ng Nguyễn Xun Cảnh, 72 tuổi, thn Ty, xã Lý Hải, huyện Lý Sơn cất giữ.

N.N.

 

Đội Bắc Hải

Đội Bắc Hải hoạt động dưới sự kim quản của đội Hong Sa trong khu vực phía Nam của biển Đng tức quần đảo Trường Sa v vng phụ cận.

Dưới thời Đại Việt, Chúa Nguyễn cai quản Nam H, dần dần tìm ra các đảo san h hết sức rộng ở biển Đng. Do vậy, ngoi đội Hong Sa, còn thnh lập thm đội Bắc Hải để khai thác, quản lý các đảo ny. Tuy nhin, các chúa Nguyễn vẫn để đội Hong Sa kim quản để có một đầu mối, hầu có thể dễ dng nắm tình hình ở biển Đng. Như vậy, cai đội Hong Sa đồng thời kim quản đội Bắc Hải.

Về thời điểm ra đời của đội Bắc Hải, các ti liệu hiện còn khng cho biết chính xác. Chỉ biết chắc chắn l đội Bắc Hải ra đời sau đội Hong Sa v trước năm 1776 - tức l trước khi L Quý Đn viết Phủ Bin Tạp Lục, trong đó lần đầu tin đề cập đến hải đội ny.

Phủ Bin Tạp Lục, quyển 2 của L Quý Đn đã ghi chp rất cụ thể về đội Bắc Hải như sau:

밐ọ Nguyễn còn thiết lập một đội Bắc Hải. Đội ny khng định trước bao nhiu suất. Hoặc chọn người thn Tứ Chính (ở gần bờ biển) thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn người lng Cảnh Dương lấy những người tình nguyện bổ sung vo đội Bắc Hải. Ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi v chỉ thị sai phái đội ấy đi lm cng tác.

밡hững người được bổ sung vo đội Bắc Hải đều được miễn nạp tiền sưu cng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò. Khng thấy nói miễn tiền thuế.

Đội Bắc Hải hoạt động trn vng biển phía Nam, ở quần đảo Trường Sa hiện nay) v cả Cn Ln, H Tin để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đại mội, hải ba, đồn ngư (cá heo lớn như con heo), lục quý ngư, hải sm (con đỉa biển). Ở phía Nam Biển Đng (khu vực Trường Sa hiện nay) ít có bão lớn, khng nguy hiểm, ít có vụ đắm tu nn rất ít thu lượm được các sản vật từ tu đắm như vng bạc, súng ống m chủ yếu l hải sản, đặc biệt l loại cá heo (đồn ngư)...

Đội Bắc Hải được các ti liệu ở các thời gian sau (thế kỷ XIX) tiếp tục ghi chp. Đại Nam Thực Lục Tiền Bin soạn xong năm 1844 chp rằng đội Bắc Hải mộ dn thn Bình Thuận, Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc Hải lượm hóa vật, cũng do đội Hong Sa kim quản. Đại Nam Nhất Thống Chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi, soạn xong năm 1882 cũng còn viết đội Bắc Hải ra đảo Cn Ln tìm lấy hải vật cũng do đội Hong Sa kim quản. Khng có ti liệu no cho biết đội Bắc Hải ngưng hoạt động trước hay sau đội Hong Sa.

(Trích từ 밫rường Sa, mảnh đất thing của Việt Nam báo Thanh Nin ngy 1-1-2008)

NGUYỄN NHÃ Tiến sĩ sử học

Phần II: Bối cảnh v giải pháp cho tranh chấp trn biển Đng:

Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam v các nước láng giềng

 

Chủ quyền v ton vẹn lãnh thổ l vấn đề thing ling đối với mỗi dn tộc. Trong đó lãnh thổ v bin giới quốc gia lại l hai yếu tố gắn bó với nhau như hình với bóng, do đó pháp luật quốc tế hiện đại v tập quán quốc tế đều thừa nhận tính bất khả xm phạm của lãnh thổ quốc gia v bin giới quốc gia.

Cho đến đầu thế kỷ 20, pháp luật quốc tế vẫn còn thừa nhận việc dng vũ lực để xm chiếm một bộ phận hay ton bộ lãnh thổ của một nước l hợp pháp. Nhưng ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hiến chương Lin Hợp Quốc được thng qua năm 1945 có điều 2, khoản 4 cấm sử dụng vũ lực chống lại ton vẹn lãnh thổ của một quốc gia.

Cuộc đấu tranh kin cường, bền bỉ v quyết liệt của các dn tộc thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai m dn tộc ta l một đội ngũ tin phong với chiến thắng lẫy lừng Điện Bin Phủ đã dẫn tới nghị quyết cụ thể v đầy đủ hơn của Lin Hợp Quốc về vấn đề ny.

Nghị quyết 1514 ngy 14/12/1960 của Đại hội đồng Lin Hợp Quốc về việc trao trả nền độc lập cho các nước v các dn tộc thuộc địa đã viết: 밠ọi hnh động vũ trang v mọi biện pháp đn áp, bất kể thuộc loại no, chống lại các dn tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dứt để các dn tộc đó có thể thực hiện quyền của họ về độc lập hon ton một cách hòa bình v tự do, v ton vẹn lãnh thổ của họ sẽ được tn trọng.

Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Lin Hợp Quốc lại viết: 밅ác quốc gia có nghĩa vụ khng được dng đe dọa hoặc dng vũ lực để xm phạm các đường bin giới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hoặc như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ v các vấn đề lin quan đến các bin giới của các quốc gia.

밠ọi hnh động thụ đắc lãnh thổ bằng đe dọa hoặc bằng sử dụng vũ lực khng được thừa nhận l hợp pháp.

Theo những ti liệu hiện có thì triều đình Việt Nam quan tm chỉ đạo vấn đề bin giới - lãnh thổ từ khoảng thế kỷ thứ 10 sau khi ginh lại quyền độc lập tự chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 v ngy cng củng cố nền độc lập tự chủ đó.

Theo Tống sử, Tng Cảo, sứ giả nh Tống, được phái sang nước ta năm 990 sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai năm 981 đã báo cáo rằng khi họ đến 밾ải giới Giao Chỉ thì L Hon (vua L Đại Hnh) đã phái 9 chiến thuyền v 300 qun ln đón v dẫn họ đến địa điểm quy định. Trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp (1178), Chu Khứ Phi, một vin quan nh Tống ở Quảng Đng, Quảng Ty, đã viết rằng: dòng nước Thin Phn Dao l định giới giữa 밷iển Giao Chỉ v biển Quỳnh - Lim (tức vng biển Quỳnh Chu, Lim Chu của Trung Quốc).

Như vậy l ngay từ thế kỷ thứ 10 v 12 , sứ thần Trung Quốc v quan lại Trung Quốc đã biết đu l vng biển Giao Chỉ (tức Việt Nam), đu l vng biển Trung Quốc.

Trong thế kỷ 11 đã diễn ra một số cuộc đm phán bin giới giữa Việt Nam v Trung Quốc để đòi lại những vng đất m Trung Quốc còn chiếm, sau khi phải rút qun trong cuộc chiến tranh xm lược năm 1076-1077, cuộc chiến tranh đã xuất hiện 4 cu thơ của Lý Thường Kiệt m hai cu đầu khẳng định chủ quyền lãnh thổ:

Nam quốc sơn h nam đế cư

Tiệt nhin định phận tại thin thư.

(Sng núi nước Nam vua Nam

Rnh rnh định phận tại sách trời).

Trong các cuộc đm phán đó có cuộc đm phán về bin giới năm 1078 do Đo Tòng Nguyn dẫn đầu v cuộc đm phán năm 1084 do Trạng nguyn khai khoa L Văn Thịnh dẫn đầu. Trong thư gửi cho vua nh Tống đòi đất, vua Lý Nhn Tng viết: 밠ặc dầu những đất ấy nhỏ b nhưng vẫn khiến lòng ti đau xót, lun lun nghĩ đến cả trong giấc mộng.

Ngoi việc dng qun sự đánh úp, giải phóng Chu Quang Lang, ngay sau khi đại qun Tống rút lui, đấu tranh kin trì của triều đình kết hợp với đấu tranh của nhn dn: bắn ln, bỏ thuốc độc cộng thm khí hậu khắc nghiệt, khiến cho, theo Tống sử, đội qun đồn trú của nh Tống mỗi năm tổn thất 70%-80%, v năm 1079 mặc dầu đã đổi tn Chu Quảng Nguyn thnh Thuận Chu vẫn đnh coi l vng Đất độc v trả lại cho ta v năm 1084 trả lại cho ta vng Bảo Lạc, Túc Tang.

Khi đi đm phán bin giới, sứ thần ta đã tặng cho nh Tống 5 thớt voi khiến cho, theo Đại Việt Sử Ký Ton Thư, người Tống có thơ rằng: 밡hn tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyn kim nghĩa l: vì tham voi của Giao Chỉ m bỏ mất vng của Quảng Nguyn (họ đã đánh giá sai nguyn nhn dẫn đến việc trả lại đất).

Trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí viết năm 1821, Phan Huy Chú nhận xt l trong đm phán về bin giới đời Lý có hai mặt mạnh: một l có 뱋ai thắng trận, hai l 뱒ứ thần bn bạc, lời lẽ thung dung, khn kho.

Nh Trần đã bố trí các trọng thần phụ trách các hướng bin giới: Tướng quốc Thái sư Trần Thủ Độ phụ trách hướng Lạng Sơn, Chiu Văn Vương Trần Nhật Duật phụ trách hướng H Giang, Nhn Huệ Vương Trần Khánh Dư phụ trách hướng Đng Bắc (người thay Nhn Huệ Vương l con Hưng Đạo Đại Vương, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng).

Thế kỷ 15, vua L Thái Tổ đã cho khắc vo vách núi đá ở Hòa Bình để nhắc con cháu:

밄in phòng hảo vị tr phương lược

Xã tắc ưng tư kế cửu an

(Tạm dịch: việc bin phòng cần có phương lược phòng thủ; đất nước phải lo kế lu di).

Năm 1473, vua L Thánh Tng chỉ thị cho những người đi giải quyết vấn đề bin giới với nh Minh: 밅hớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước núi, một tấc sng tổ tin để lại m đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.

Năm 1466, khi qun Minh cướp bóc vng Thng Nng, Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng, một mặt nh vua phản kháng đòi nh Minh phải bồi thường, mặt khác ra lệnh đy 2 người chỉ huy ở Cao Bằng đi xa về tội phòng giữ bin giới khng cẩn mật v ra sắc dụ cho các tỉnh bin giới: 밡gười bầy ti giữ đất đai của triều đình, chức phận l phải bảo ton cảnh thổ, yn uỷ nhn dn, bẻ gẫy những mũi nhọn tiến cng, chống lại những kẻ khinh rẻ nước mình

Luật Hồng Đức cng bố năm 1483 có điều khoản 74, 88 về bảo vệ đất đai ở bin giới như sau: 밡hững người bán ruộng đất ở bin cương cho người nước ngoi thì bị tội chm; quan phường xã biết m khng phát giác cũng bị tội; 밡hững người đẵn tre, chặt gỗ ở nơi quan ải thì bị xử tội đồ (đồ l đy đi lm khổ sai).

Chính nhờ cuộc đấu tranh kin cường, bền bỉ, thng minh, khn kho của các thế hệ Việt Nam nối tiếp, mặc dầu trong tình hình so sánh lực lượng rất chnh lệch, phong kiến phương Bắc lun lun có ý đồ thn tính, lấn chiếm nhưng bin cương phía Bắc nước ta vẫn hình thnh rõ rệt v ổn định về cơ bản từ ngn năm nay.

Tạp chí Gographer của Vụ tình báo v nghin cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngy 29/10/1964 thừa nhận: 밪au hơn 10 thế kỷ bị đ hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá vỡ ách đ hộ của Trung Quốc v thnh lập vương quốc Đại Cồ Việt ... Nh nước mới ny đã bảo vệ được nền độc lập của mình ... Một đường bin giới gần giống như ngy nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia cách đy 10 thế kỷ.

Trong bi 밫ổng Tụ long v đường bin giới Trung Quốc - Bắc Kỳ năm 1924, Bonifacy, tư lệnh đạo quan binh H Giang đầu thế kỷ 20 viết: Đường bin giới lịch sử giữa Việt Nam v Trung Quốc đã được xác định một cách hon hảo (parfaitement dfini). Khi cần, người Việt Nam biết bảo vệ các quyền của họ, mặc dầu người Trung Quốc cho rằng khng thể có đường bin giới giữa Việt Nam v Thin Triều.

Điều m con cháu ngy nay v cng cảm kích, khm phục, biết ơn l ng cha ta chẳng những chăm lo bảo vệ vững chắc bin cương đất liền m còn rất quan tm xác lập v bảo vệ chủ quyền Việt Nam trn vng biển.

Tiếp theo hnh động buộc sứ thần Trung Quốc phải thừa nhận 밾ải giới Việt Nam cuối thế kỷ thứ 10, nh Lý đã thnh lập trang Vn Đồn để quản lý vng biển Đng Bắc; nh Trần nng trang Vn Đồn thnh trấn Vn Đồn trực thuộc triều đình; nh L đặt tuần kiểm ở các cửa biển để quản lý biển, thu thuế các tu thuyền nước ngoi. Do vậy chủ quyền Việt Nam trn các đảo vng biển Đng Bắc được xác lập sớm.

Đến thế kỷ 19, khi Pháp v nh Thanh đm phán về vng biển trong Vịnh Bắc bộ thì khng có tranh chấp về chủ quyền đối với các đảo ở vng ny, nh Thanh phải thừa nhận tất cả các đảo ở phía Ty đường kinh tuyến Paris 105o43' Đng l thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Năm 1171, 1172, vua Lý Anh Tng đích thn đi 뱓uần tra các hải đảo ngoi biển ở địa giới các phin bang Nam, Bắc, tìm hiểu đường đi, vẽ bản đồ v ghi chp phong vật.

Ở phía Nam, các chúa Nguyễn sau khi xác lập chủ quyền Việt Nam đối với các đảo dọc bờ biển miền Trung v miền Nam: Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Cn Đảo, đầu thế kỷ 18 đã xác lập chủ quyền Việt Nam trn các đảo trong Vịnh Thái Lan. Khi đặt ách thống trị trn Nam Kỳ v Campuchia, các quan chức Pháp đã tiến hnh khảo sát vng biển giữa hai nước Việt Nam, Campuchia v đứng trước tình hình tất cả các đảo trn vng biển ny về mặt hnh chính đều thuộc tỉnh H Tin của Việt Nam.

Ngy 25-3-1873 chuẩn đ đốc thống đốc Nam Kỳ Krantz đã thừa nhận thực tế đó trong nghị định quy định đảo Phú Quốc v tất cả các đảo trn vng biển giữa Nam Kỳ v Campuchia được tách khỏi tỉnh H Tin, lập thnh một quận trực thuộc Thống đốc Nam Kỳ.

Đối với các đảo xa bờ, theo chính sử Việt Nam v theo nhiều nhn chứng nước ngoi, từ thế kỷ 17, các chúa Nguyễn với danh nghĩa Nh nước đã thnh lập các đội Hong Sa, Bắc Hải hng năm ra khai thác v quản lý các quần đảo Hong Sa v Trường Sa.

Tiếp đó triều Nguyễn rất quan tm đến việc củng cố chủ quyền Việt Nam trn hai quần đảo. Các hong đế Gia Long, Minh Mạng lin tiếp phái thủy qun ra Hong Sa - Trường Sa khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, lập miếu, dựng bia. Theo Đại Nam Thực Lục Chính Bin, trong 3 năm: 1833, 1835, 1836 vua Minh Mạng lin tiếp có chỉ thị về Hong Sa.

Khng chỉ chăm lo khai thác hai quần đảo, nh vua Việt Nam còn lo bảo đảm an ton cho tu thuyền Việt Nam v các nước qua lại vng biển xung quanh hai quần đảo. Năm 1833 vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Cng rằng: 밫rong hải phận Quảng Nghĩa, có một dải Hong Sa, xa trng trời nước một mầu; khng phn biệt được nng hay su. Gần đy thuyền bun thường bị nạn. Nay nn dự bị thuyền mnh, đến sang năm phái người tới đó trồng nhiều cy cối. Ngy sau cy cối xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nạn mắc cạn.(1)

Trong một ti liệu viết năm 1768, Đ đốc Pháp D묮staing, người nhận nhiệm vụ nghin cứu kế hoạch tiến cng vo Việt Nam đã viết rằng: 밮iệc đi lại giữa quần đảo đá Paracel (tức Hong Sa) v đất liền còn khó khăn hơn việc đi lại ngoi biển khơi. Thế m các thuyền nhỏ của xứ ny thường qua lại vng quần đảo. D묮staing đánh giá các thủy thủ Việt Nam l 뱊hững người quen sng nước v l các thủy thủ giỏi. Trong một ti liệu khác viết vo cuối năm 1758 đầu năm 1759, D묮staing còn nói ở Huế có tới 400 khẩu pháo hầu hết l của Bồ Đo Nha thu lượm từ các xác tu đắm ở Paracel.

Trong cuốn Chủ quyền trn hai quần đảo Hong Sa v Trường Sa xuất bản ở Paris năm 1996, giáo sư Monique Chemillier Gendreau, chủ tịch Hội luật gia Chu Âu đã viết: 밙hi có Hiệp ước bảo hộ của Pháp năm 1884, Việt Nam đã nắm giữ khng có cạnh tranh v trong khoảng gần hai thế kỷ, một quyền (un droit) đối với các quần đảo (Hong Sa, Trường Sa), theo đúng chế độ luật pháp của thời kỳ đó.

Từ 1884, Chính quyền Pháp ở Đng Dương đã tiếp tục thực hiện v củng cố chủ quyền Việt Nam trn hai quần đảo: tiến hnh khảo sát khoa học, dựng bia chủ quyền, dựng đn biển, lập trạm khí tượng, đi v tuyến điện, đưa qun ra đồn trú, thnh lập đơn vị hnh chính trn quần đảo Hong Sa thuộc tỉnh Thừa Thin v sát nhập quần đảo Trường Sa vo tỉnh B Rịa.

Sau thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, nước Việt Nam ginh lại được độc lập thống nhất hon ton, vấn đề bảo vệ bin giới, bảo vệ lãnh thổ ton vẹn của tổ quốc mới lại hon ton thuộc về trách nhiệm của nh nước Việt Nam.

Năm 1954, Bác Hồ nói ở đền Vua Hng: 밅ác Vua Hng đã có cng dựng nước, bác cháu ta phải cng nhau giữ lấy nước v năm 1961, mặc dầu mới có một nửa nước được giải phóng, Bác Hồ đã nói: 밡gy trước ta chỉ có đm v rừng, ngy nay ta có ngy, có trời, có biển. Bờ biển ta di, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó. Bác Hồ đã chỉ thị cho chúng ta phải nhận thức rõ tình hình mới, phải chăm lo bảo vệ ton vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sau ny, tun theo chỉ thị của Bác Hồ, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã khẳng định lãnh thổ Việt Nam 밷ao gồm đất liền, các hải đảo, vng biển v vng trời v 멦ổ quốc Việt Nam l thing ling, bất khả xm phạm.

Trong bối cảnh địa lý v chính trị của nước ta sau năm 1975 , trước sự phát triển của luật pháp quốc tế về biển, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phải giải quyết một loạt vấn đề bin giới - lãnh thổ với các nước láng giềng:

1. Giữa Việt Nam, Lo, Campuchia cần có một đường bin giới có giá trị pháp lý quốc tế do các nh nước có thẩm quyền ký kết, tạo ra cơ sở vững chắc để xy dựng một đường bin giới hữu nghị lu di giữa ba dn tộc.

2. Việt Nam cần xác định ranh giới vng đặc quyền về kinh tế v thềm lục địa với Indonesia, Thái Lan, Malaysia; vì theo các quy định mới của luật biển quốc tế thì vng đặc quyền về kinh tế v thềm lục địa của nước ta v các nước đó chồng ln nhau.

3. Việt Nam cần giải quyết vấn đề bin giới lãnh thổ trn biển với Philippin, Malaysia vì hai nước ny có yu sách về chủ quyền đối với một phần hoặc đại bộ phận quần đảo Trường Sa.

4. Với Trung Quốc, Việt Nam phải giải quyết các vấn đề sau:

- Đường bin giới trn đất liền;

- Đường bin giới trong Vịnh Bắc bộ;

- Các vấn đề chủ quyền lãnh thổ v thềm lục địa trn Biển Đng: từ năm 1909 Trung Quốc bắt đầu có tranh chấp quần đảo Hong Sa v từ những năm 1930 bắt đầu có hnh động tranh chấp quần đảo Trường Sa.

- Vấn đề ranh giới vng thng báo bay (FIR) ngoi khơi Trung bộ - Việt Nam, Trung Quốc đưa ra đề nghị lập FIR Sanya lấn vo phần phía Bắc FIR Hồ Chí Minh m Hng khng dn dụng quốc tế giao cho Hong Kong tạm thời quản lý năm 1975 chủ yếu l họ muốn quản lý ton bộ vng trời trn quần đảo Hong Sa v lấn vo phần phía Đng FIR H Nội trn Vịnh Bắc Bộ.

LÊ MINH NGHĨA (*) Cố Trưởng ban Ban Bin giới của Chính phủ CHXHCNVN

Sắp ra mắt Quần đảo Hong Sa khng thể nhượng quyền của VN

Sau hơn 10 năm ấp ủ v tám tháng miệt mi chấp bút, đầu tháng 3-2009, nh nghin cứu Nguyễn Phước Tương đã hon tất bản thảo dy 400 trang nhan đề Quần đảo Hong Sa khng thể nhượng quyền của VN.

Theo nh nghin cứu Nguyễn Phước Tương, đy l cuốn sách được viết dưới dạng tổng hợp được trích dẫn từ 150 nguồn ti liệu quý hiếm trn khắp thế giới nói về hai quần đảo Hong Sa v Trường Sa. 밪uốt 10 năm qua, ti đã đi gõ cửa khắp các trung tm lưu trữ, thư viện quốc gia cũng như Cục Lưu trữ của Bộ Ngoại giao để có được những tư liệu quý về Hong Sa v Trường Sa. Trong số 150 ti liệu thu thập được, có 26 ti liệu viết bằng tiếng Pháp được coi l hiếm với những minh chứng cho thấy Hong Sa hon ton của VN kể từ thời chúa Nguyễn - ng Tương cho biết.

Quần đảo Hong Sa khng thể nhượng quyền của VN l cuốn sách được viết theo đơn đặt hng của chính quyền TP Đ Nẵng - đơn vị quản lý trực tiếp huyện đảo Hong Sa. Theo đó, sách được phn thnh 17 chương cụ thể, rõ rng như: Quần đảo Hong Sa - huyện đảo của VN, Những đặc điểm địa lý của quần đảo Hong Sa, Ti nguyn thin nhin của quần đảo Hong Sa, Các di tích v bất động sản trn quần đảo Hong Sa...

Nh nghin cứu Nguyễn Phước Tương cho biết cuốn sách trn đã được bốn đơn vị gồm Sở Khoa học - cng nghệ, Sở Nội vụ, Hội Khoa học lịch sử TP v Thnh ủy Đ Nẵng thẩm định đánh giá về độ chính xác. Cuối tháng 3-2009, cuốn sách đã được chính quyền TP Đ Nẵng đồng ý cấp php cho xuất bản v dự kiến ấn hnh vo tháng 5.

Đ.NAM

Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam v các nước láng giềng (tt)

 

Với chủ trương nhất quán l giải quyết mọi tranh chấp về bin giới lãnh thổ với các nước láng giềng bằng thương lượng hòa bình, Việt Nam đã v đang giải quyết các vấn đề được đặt ra như sau:

1. Với Cộng hòa Dn chủ Nhn dn Lo

Tháng 2-1976, lãnh đạo hai nước đã cho ý kiến về nguyn tắc giải quyết vấn đề bin giới giữa hai nước. Đường bin giới giữa Việt Nam v Lo l đường bin giới trn bản đồ của Sở Địa dư Đng Dương năm 1945 tỷ lệ 1/100 000 (năm 1945 l thời điểm hai nước tuyn bố độc lập).

Như vậy l lãnh đạo Việt Nam v Lo đã cho nguyn tắc giải quyết vấn đề bin giới hai nước theo nguyn tắc Uti-possidtis (anh hãy lm chủ cái anh đang có), một nguyn tắc đã được áp dụng ở Chu Mỹ la tinh trong thời kỳ phi thực dn hóa v đã được Tổ chức thống nhất Chu Phi chấp nhận với nội dung 뱓n trọng các đường bin giới tồn tại vo lúc m các nước Chu Phi ginh được độc lập.

Dựa trn nguyn tắc Uti possidtis, qua 4 đợt đm phán trong Ủy ban lin hợp Việt - Lo về hoạch định bin giới, ngy 18-7-1977 hai nước ký Hiệp ước Hoạch định bin giới. Việc phn giới cắm mốc đường bin giới di 2067 km bắt đầu tiến hnh ngy 25-7-1978 v đến 24-8-1984 thì kết thúc.

Ngy 24-1-1986 hai nước ký Hiệp ước bổ sung ghi nhận những điểm điều chỉnh đường bin giới đã hoạch định năm 1977, ký nghị định thư ghi nhận kết quả phn giới cắm mốc. Ngy 1/3/1990 hai nước ký Hiệp định quy chế bin giới. Thi hnh hiệp định ny, hng năm có cuộc họp giữa đon đại biểu bin giới hai nước với sự có mặt của đại diện các bộ, ngnh lin quan v các tỉnh bin giới của hai nước để kiểm điểm việc thi hnh Hiệp định quy chế bin giới.

2. Với Campuchia

Trước năm 1964, quan điểm cơ bản của phía Campuchia về bin giới lãnh thổ giữa hai nước l đòi Việt Nam trả lại cho Campuchia 6 tỉnh Nam Kỳ v đảo Phú Quốc.

Từ năm 1964 - 1967, Chính phủ Vương quốc Campuchia do Quốc trưởng Norodom Sihanouk đứng đầu chính thức đề nghị Việt Nam cng nhận Campuchia trong đường bin giới hiện tại, cụ thể l đường bin giới trn bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đng Dương thng dụng trước năm 1954 với 9 điểm sửa đổi, tổng diện tích khoảng 100km2. Trn biển, phía Campuchia đề nghị các đảo phía Bắc đường do Ton quyền Brvi vạch năm 1939 l thuộc Campuchia, cộng thm quần đảo Thổ Chu v nhóm phía Nam quần đảo Hải Tặc.

Trong năm 1967, Việt Nam Dn chủ Cộng hòa v Mặt trận Dn tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chính thức cng nhận v cam kết tn trọng ton vẹn lãnh thổ của Campuchia trong đường bin giới hiện tại (cng hm của Việt Nam khng nói tới vấn đề chủ quyền đối với các đảo trn biển v 9 điểm m Campuchia đề nghị sửa đổi về đường bin giới trn bộ).

Ngy 27-12-1985, Việt Nam v Cộng hòa Nhn dn Campuchia đã ký Hiệp ước hoạch định bin giới quốc gia trn cơ sở thỏa thuận năm 1967. Thi hnh Hiệp ước, hai bn đã tiến hnh phn giới trn thực địa v cắm mốc quốc giới từ tháng 4-1986 đến tháng 12-1988 được 207 km/1137 km; tháng 1-1989 theo đề nghị của phía Campuchia, hai bn tạm dừng việc phn giới cắm mốc.

Trn biển, ngy 7-7-1982 hai chính phủ ký Hiệp định thiết lập vng nước lịch sử chung giữa hai nước v thỏa thuận: sẽ thương lượng vo thời gian thích hợp để hoạch định đường bin giới trn biển, lấy đường gọi l đường Brvi được vạch ra năm 1939 với tính chất l đường hnh chính v cảnh sát lm đường phn chia đảo giữa hai nước.

Với Chính phủ Campuchia thnh lập sau khi ký Hiệp ước hòa bình về Campuchia năm 1993 , năm 1994, 1995 Thủ tướng Chính phủ hai nước đã thỏa thuận thnh lập một nhóm lm việc cấp chuyn vin để thảo luận v giải quyết vấn đề phn giới giữa hai nước v thảo luận những biện pháp cần thiết để duy trì an ninh v ổn định trong khu vực bin giới nhằm xy dựng một đường bin giới hòa bình, hữu nghị lu di giữa hai nước. Hai bn thỏa thuận trong khi chờ đợi giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về bin giới thì duy trì sự quản lý hiện nay.

Thực hiện thỏa thuận giữa Thủ tướng Chính phủ hai nước nhn dịp Thủ tướng Ung Huốt sang thăm Việt Nam đầu tháng 6-1998, nhóm chuyn vin lin hợp về bin giới Việt Nam - CPC đã họp tại Phnom Pnh từ ngy 16 đến 20-6-1998. Trong cuộc họp ny, hai bn đã trao đổi về việc tiếp tục thực hiện các hiệp ước, hiệp định về bin giới giữa hai nước đã ký trong những năm 1982, 1983, 1985. Hai bn đã dnh nhiều thời gian thảo luận một số vấn đề về quan điểm của hai bn lin quan đến bin giới biển v bin giới trn bộ với mong muốn xy dựng đường bin giới giữa hai nước trở thnh đường bin giới hòa bình, hữu nghị v hợp tác lu di.

Hai bn đã thống nhất kiến nghị ln chính phủ hai nước tiến hnh thnh lập Ủy ban lin hợp với những nhiệm vụ:

- Soạn thảo Hiệp ước về hoạch định bin giới biển v Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định bin giới quốc gia trình ln chính phủ hai nước.

- Chỉ đạo việc phn giới trn thực địa v cắm mốc quốc giới.

- Giải quyết mọi vấn đề lin quan đến việc thực hiện Hiệp định về quy chế bin giới giữa hai nước.

Qua trao đổi về đường bin giới biển, phía Campuchia kin trì quan điểm muốn lấy đường do Ton quyền Brvi vạch ra tháng 1-1939 lm đường bin giới biển của hai nước.

Ta đã nói rõ l ta khng chấp nhận đường Brvi lm đường bin giới biển giữa hai nước vì:

1. Đường Brvi khng phải l một văn bản pháp quy, chỉ l một bức thư (lettre) gửi cho Thống đốc Nam Kỳ đồng gửi cho Khm sứ Pháp ở Campuchia. Văn bản đó chỉ có mục đích giải quyết vấn đề phn định quyền hnh chính v cảnh sát đối với các đảo, khng giải quyết vấn đề quy thuộc lãnh thổ;

2. Cả hai bn khng có bản đồ đính km theo văn bản Brvi vì vậy hiện nay ít nhất lưu hnh 4 cách thể hiện đường Brvi khác nhau: đường của Pn Pốt, đường của Chính quyền miền Nam Việt Nam, đường của ng Sarin Chhak trong luận án tiến sĩ bảo vệ ở Paris sau đó được xuất bản với lời tựa của Quốc trưởng Norodom Sihanouk, đường của các học giả Hoa Kỳ.

3. Nếu chuyển đường Brvi thnh đường bin giới biển thì khng ph hợp với luật pháp quốc tế, thực tiễn quốc tế, quá bất lợi cho Việt Nam v nn lưu ý l vo năm 1939 theo luật pháp quốc tế lãnh hải chỉ l 3 hải lý, chưa có quy định về vng đặc quyền về kinh tế v thềm lục địa thì đường Brvi lm sao có thể giải quyết vấn đề phn định lãnh hải theo quan điểm hiện nay v phn định vng đặc quyền về kinh tế v thềm lục địa.

Phía Việt Nam đã đề nghị hai bn thỏa thuận: áp dụng luật biển quốc tế, tham khảo thực tiễn quốc tế, tính đến mọi hon cảnh hữu quan trn vng biển hai nước để đi đến một giải pháp cng bằng trong việc phn định vng nước lịch sử, lãnh hải, vng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của hai nước.

3. Với Indonesia

Việt Nam v Indonesia cách nhau 250 hải lý vng biển tính từ Cn Đảo v Natuna Bắc l hai đảo xa nhất của hai nước đối diện nhau, do đó trước kia khng có vấn đề bin giới giữa hai nước (nếu tính từ bờ biển Việt Nam v bờ biển Borno thì cách nhau trn 400 hải lý). Đến nay do sự phát triển của luật pháp quốc tế về biển, hai bn phải phn định ranh giới vng thềm lục địa v vng đặc quyền kinh tế.

Năm 1972, Indonesia v chính quyền Si Gòn đm phán 1 vòng, quan điểm của Indonesia l phn định theo trung tuyến giữa các đảo xa nhất của hai bn, quan điểm của Si Gòn l trung tuyến giữa bờ biển Việt Nam v Borno, hai quan điểm tạo nn vng chồng lấn rộng khoảng 37.000km2. (Đảo Natuna Bắc l đảo xa nhất của Indonesia đối diện với miền Nam Việt Nam cách Borno 320km; Cn Đảo, đảo đối diện với Natuna Bắc chỉ cách đất liền 90km).

Từ năm 1978, CHXHCN Việt Nam v Indonesia bắt đầu đm phán. Indonesia giữ quan điểm cũ, quan điểm của ta dựa vo định nghĩa thềm lục địa l sự ko di tự nhin của lục địa, do đó ranh giới nn theo đường rãnh ngầm ngăn cách sự ko di tự nhin của hai thềm lục địa, hai quan điểm tạo ra vng tranh chấp lúc đầu rộng khoảng 92.000km2.

Qua 10 vòng đm phán hai bn đã dần dần thu hẹp được vng tranh chấp xuống còn khoảng 4.500km2 nhưng đầu năm 1993 Indonesia đề nghị hủy bỏ ton bộ kết quả đm phán từ 1978 đến 1992 v đm phán lại từ đầu.

Cho đến nay, qua 5 vòng trao đổi khng chính thức, hai bn chưa đi đến thỏa thuận nối lại đm phán.

LÊ MINH NGHĨA (*) Cố Trưởng ban Ban Bin giới của Chính phủ CHXHCNVN

Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam v các nước láng giềng (tiếp theo)

4. Với Malaysia

 

Giữa Việt Nam v Malaysia có một vng chồng lấn vng biển v thềm lục địa rộng khoảng 2.800km2. Vng ny hình thnh bởi đường ranh giới thềm lục địa do chính quyền Si Gòn cng bố năm 1971 v đường ranh giới thềm lục địa do Malaysia cng bố năm 1979.

Sở dĩ có sự khác nhau đó l do Si Gòn có tính đến đảo Hòn Khoai cách đất liền 6,5 hải lý còn Malaysia đã bỏ qua đảo Hòn Khoai.

Tháng 5-1992, Việt Nam v Malaysia đã ký thỏa thuận hợp tác thăm dò khai thác chung vng chồng lấn, giao cho các cng ty dầu lửa của hai bn ký các dn xếp thương mại v tiến hnh hợp tác thăm dò, khai thác rồi phn chia sản phẩm; việc phn định vng chồng lấn sẽ giải quyết sau. Việc hợp tác giữa hai ngnh dầu khí đang tiến triển bình thường.

Ngoi ra, vng khai thác chung giữa Thái Lan v Malaysia rộng 7.250km2 có 800km2 lin quan đến Việt Nam. Ba nước đã thỏa thuận sẽ cng nhau giải quyết khu vực ny v cuộc họp đầu tin đã diễn ra tháng 2-1998, vòng hai sẽ họp vo nửa cuối năm 1998 để bn về khả năng khai thác chung vng chồng lấn.

Giữa Việt Nam v Malaysia còn có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa do Malaysia có yu sách đối với vng phía Nam quần đảo Trường Sa v trn thực tế trong 2 năm 1993-1994,

Malaysia đã cho qun chiếm ba bãi đá ngầm ở Nam quần đảo Trường Sa: Hoa Lau, Kỳ Vn, Kiệu Ngựa.

Chính phủ Việt Nam v chính phủ Malaysia nhiều lần khẳng định sẽ giải quyết mọi tranh chấp giữa hai nước bằng thương lượng hòa bình.

5. Với Thái Lan

Giữa Việt Nam v Thái Lan có hai vấn đề trn biển phải giải quyết:

a) Phn định vng đặc quyền kinh tế v thềm lục địa.

b) Giải quyết vấn đề tầu thuyền đánh cá Thái Lan thường xuyn vi phạm vng biển Việt Nam v có trường hợp Thái Lan đã dng hải qun, khng qun bảo vệ các hoạt động ny.

Về vấn đề thứ nhất: giữa hai nước có một vng chồng lấn rộng khoảng 6000km2 do Việt Nam có tính đến hiệu lực của đảo Thổ Chu, còn Thái Lan thì phủ nhận hiệu lực của đảo Thổ Chu.

Từ năm 1992, hai bn đm phán qua 9 vòng cấp chuyn vin.

Ngy 9-8-1997 hai nước ký Hiệp định về phn định ranh giới trn biển giữa hai nước. Theo Hiệp định, Việt Nam được 32,5% diện tích vng chồng lấn.

Về vấn đề thứ hai: Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Thái Lan về thiết lập trật tự trn biển đã họp hai vòng. Hai bn đã thỏa thuận phối hợp trong việc giáo dục ngư dn, đi tới tổ chức tuần tra chung, thiết lập knh lin lạc cảnh báo vi phạm, hợp tác tổ chức điều tra nguồn lợi biển giữa hai nước.

Việc giải quyết dứt điểm vấn đề ny cũng còn đòi hỏi một thời gian.

6. Với Philippin

Philippin vốn l nước khng có quyền gì đối với quần đảo Trường Sa vì Hiệp định Paris năm 1898 giữa Mỹ v Ty Ban Nha theo đó Ty Ban Nha giao Philippin cho Mỹ, đã xác định phạm vi quần đảo Philippin trn bản đồ km theo Hiệp định, theo bản đồ đó nước Philippin khng bao gồm 1 đảo no của quần đảo Trường Sa.

Từ năm 1951, Philippin bắt đầu chuẩn bị dư luận để nhẩy vo tranh chấp quần đảo Trường Sa với lời tuyn bố của Tổng thống Philippin Quirino rằng quần đảo Spratly (tức Trường Sa) phải thuộc về Philippin vì nó ở gần Philippin.

Từ năm 1971-1973, Philippin cho qun đội ra chiếm đóng 5 đảo trn quần đảo Trường Sa v năm 1977-1978 chiếm thm hai đảo nữa. Cả 7 đảo nằm ở phía Bắc quần đảo. Họ ra sức củng cố vị trí trn quần đảo: chở đất ra đảo để trồng dừa, cạp thm đất ra biển để lm đường băng cho máy bay chiến đấu, mở đường hng khng thường kỳ, tổ chức đánh cá, xy dựng kho ướp lạnh, tổ chức thăm dò, khai thác dầu khí ở Đng Bắc quần đảo (có tin nói l sản lượng dầu khai thác ở đy đảm bảo 10% nhu cầu dầu của Philippin).

Đầu năm 1979, Philippin cng bố sắc lệnh của Tổng thống Marcos ký ngy 11/6/1978 coi ton bộ quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa) l lãnh thổ Philippin v đặt tn cho quần đảo l Kalayaan.

Năm 1980, Philippin mở rộng lấn chiếm xuống phía Nam quần đảo, chiếm đóng đảo Cng Đo cách đảo gần nhất m họ chiếm đóng cũ gần 150 hải lý.

Từ năm 1978 đến 1994, Việt Nam v Philippin đã thỏa thuận ở cấp bộ trưởng bộ ngoại giao, thủ tướng chính phủ, tổng thống v chủ tịch nước l sẽ giải quyết mọi tranh chấp giữa hai nước bằng thương lượng hòa bình trn tinh thần hữu nghị, hòa giải, tin cậy lẫn nhau.

Ngy 7-11-1995, hai bộ ngoại giao Việt Nam - Philippin đã đạt được thỏa thuận về 9 nguyn tắc ứng xử cơ bản đối với vng tranh chấp trong đó có các điểm chính l:

- Hai bn đồng ý thng qua thương lượng, hòa bình tìm kiếm giải pháp cơ bản cho vấn đề tranh chấp chủ quyền trn quần đảo Trường Sa.

- Kiềm chế khng sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực, thúc đẩy hợp tác song phương hoặc đa phương về bảo vệ mi trường, nghin cứu khoa học, khí tượng, chống thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, chống cướp biển v kiểm soát nhiễm mi trường, bảo vệ ti nguyn biển ở quần đảo Trường Sa.

- Bảo đảm tự do hng hải theo quy định của luật quốc tế.

- Từng bước tăng cường hợp tác v giải quyết dứt điểm tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.

Cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1996, hai bn đã thực hiện thnh cng chuyến khảo sát chung về khoa học biển tại khu vực quần đảo Trường Sa v Biển Đng. Hai bn sẽ tiếp tục tổ chức khảo sát khoa học chung trn khu vực quần đảo v trn Biển Đng. Ủy ban hỗn hơp Việt Nam - Philippin do bộ trưởng ngoại giao hai nước dẫn đầu họp tại H Nội tháng 1-1997 đã thỏa thuận về một số biện pháp xy dựng lòng tin trn quần đảo, trong đó có việc trao đổi các cuộc viếng thăm của các chỉ huy qun sự v lực lượng đồn trú của hai bn trn quần đảo.

LÊ MINH NGHĨA (*) Cố Trưởng ban Ban Bin giới của Chính phủ CHXHCNVN

Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam với Cộng hòa Nhn dn Trung Hoa

 

Năm 1957-1958, có sự trao đổi giữa Trung ương Đảng hai nước về bin giới. Ngy 2-11-1957 Ban Chấp hnh Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam gửi thư cho Ban Chấp hnh Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị:

Vấn đề bin giới l một vấn đề quan trọng cần giải quyết theo những nguyn tắc pháp lý đang có hoặc được xác định lại do Chính phủ hai nước quyết định; nhất thiết cấm các nh chức trách v các đon thể địa phương khng được thương lượng với nhau để cắm lại mốc giới hoặc cắt nhượng đất cho nhaư

.

Hm ý của bức thư l hai bn cần căn cứ vo các cng ước về hoạch định bin giới m Pháp v Trung Quốc đã ký cuối thế kỷ trước để giải quyết vấn đề bin giới giữa hai nước.

Tháng 4-1958 Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trả lời đồng ý với ý kiến của Trung ương Đảng Việt Nam về cng tác bin giới Việt - Trung.

Cuộc đm phán đầu tin về bin giới giữa hai nước l về Vịnh Bắc bộ diễn ra từ 15-8-1974 đến 22-11-1974 tại Bắc Kinh, cấp thứ trưởng bộ ngoại giao. Cuộc đm phán mới chỉ có tính cách tìm hiểu quan điểm của nhau v khng đi tới thỏa thuận no.

Cuộc đm phán thứ hai về bin giới l về đường bin giới trn bộ v về Vịnh Bắc bộ diễn ra từ tháng 10-1977 đến tháng 6-1978 tại Bắc Kinh, cấp thứ trưởng ngoại giao. Cuộc đm phán ny cũng khng đi tới thỏa thuận no.

Từ tháng 2 năm 1979 đến 1986 diễn ra chiến tranh v xung đột qun sự trn vng bin giới, đặc biệt l trn bin giới các tỉnh H Giang, Lạng Sơn, ác liệt v ko di nhất l ở bin giới tỉnh H Giang.

Từ năm 1991 hai nước khi phục quan hệ bình thường. Qua hai vòng đm phán về bin giới cấp chuyn vin v một vòng đm phán cấp chính phủ trong hai năm 1992, 1993, ngy 19-10-1993 hai nước ký 밫hỏa thuận về những nguyn tắc cơ bản giải quyết vấn đề bin giới lãnh thổ giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam v Cộng hòa Nhn dn Trung Hoa.

Thực hiện thỏa thuận trn, hai bn đã tổ chức 3 diễn đn đm phán cấp chuyn vin: về bin giới trn bộ; về bin giới trong Vịnh Bắc bộ; về các vấn đề trn Biển Đng v một diễn đn đm phán cấp chính phủ để xem xt các vấn đề do các nhóm chuyn vin trình ln.

7.1. Về bin giới trn bộ

Thực hiện thỏa thuận ngy 19-10-1993 l căn cứ vo các cng ước 1887 v 1895 m Pháp v Trung Quốc đã ký cuối thế kỷ trước để 뱗ác định lại ton đường bin giới trn bộ giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc, hai bn đã họp 12 vòng nhóm cng tác về bin giới trn bộ trước năm 2000.

7.2. Về đường bin giới trong Vịnh Bắc Bộ

Hai bn đã họp 10 vòng nhóm cng tác về Vịnh Bắc bộ v 6 vòng tổ chuyn gia về Vịnh Bắc Bộ để thực hiện thỏa thuận về nguyn tắc phn định Vịnh Bắc bộ l áp dụng luật biển quốc tế v tham khảo thực tiễn quốc tế, để tiến hnh đm phán phn định Vịnh Bắc bộ, 뱓heo nguyn tắc cng bằng v tính đến mọi hon cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc bộ để đi đến một giải pháp cng bằng.

Cuộc đm phán có tiến triển v hai bn đang cng cố gắng để có thể ký Hiệp ước về phn định Vịnh Bắc bộ cũng trước năm 2000. Vấn đề lớn nhất m hai bn phải giải quyết l vấn đề hiệu lực các đảo ven bờ của Việt Nam v đảo Bạch Long Vĩ cách Hải Phòng 130 km.

7.3. Về các vấn đề trn Biển Đng

Trn Biển Đng, vấn đề tranh chấp phức tạp v quan trọng nhất l về hai quần đảo: quần đảo Hong Sa v quần đảo Trường Sa, bởi vì hai quần đảo giữ một vị trí chiến lược trọng yếu trn Biển Đng. Nếu như nước ngoi chiếm cả hai quần đảo thì nước Việt Nam khng còn thế đứng trn Biển Đng v bị bao vy trn hướng biển.

Quần đảo Hong Sa bao gồm trn 30 đảo, bãi, đá ngầm trn một vng biển rộng khoảng 15.000 - 16.000km2 cách Đ Nẵng khoảng 170 hải lý. Quần đảo Trường Sa gồm trn 100 đảo, bãi, đá ngầm trn vng biển rộng khoảng 160.000 - 180.000km2, đảo gần nhất của quần đảo cách Vũng Tầu khoảng 250 hải lý. (Trung Quốc quan niệm quần đảo Trường Sa rộng hơn nhiều quan niệm của ta l điểm cực Nam của quần đảo Trường Sa l 6o50' Bắc trong khi Trung Quốc coi điểm cực Nam của quần đảo Trường Sa l 4o Bắc giáp Borno).

Theo những ti liệu chính thức, nh nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu v lm chủ hai quần đảo từ thế kỷ thứ 17, tiếp đó Chính quyền Đng Dương đã củng cố chủ quyền Việt Nam trn hai quần đảo: thnh lập bộ máy hnh chính thuộc hai tỉnh Thừa Thin v B Rịa, cho cảnh sát ra đồn trú, lập đi khí tượng, trạm v tuyến điện, xy đn biển.

Cho đến đầu thế kỷ 20 khng có nước no tranh chấp chủ quyền trn hai quần đảo đối với Việt Nam.

Đại Thanh Đế Quốc Ton Đồ xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910, chỉ vẽ đế quốc Đại Thanh đến Hải Nam.

Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 viết: Điểm mút của Trung Hoa ở Đng Nam l bờ biển Nhai Chu, đảo Quỳnh Chu, vĩ tuyến 18o13' Bắc.

Đầu năm 1907, Nhật Bản chiếm Đng Sa (Pratas) lm cho các nh cầm quyền miền Nam Trung Quốc quan tm đến các đảo trn Biển Đng. Tháng 5 năm 1909, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhn Tuấn phái Đ đốc Lý Chuẩn đem 3 pháo thuyền ra thăm chớp nhoáng một vi đảo trn quần đảo Hong Sa rồi về. Năm 1921, chính quyền miền Nam Trung Quốc ra quyết định sát nhập quần đảo Hong Sa (m họ gọi l Ty Sa) vo đảo Hải Nam.

Từ đó bắt đầu có sự tranh chấp giữa Trung Quốc v Pháp về chủ quyền trn quần đảo Hong Sa v từ những năm 1930 trn quần đảo Trường Sa. Năm 1935 lần đầu tin Trung Quốc chính thức cng bố một bản đồ có cả 4 quần đảo trn Biển Đng l của Trung Quốc (cng hm của Cng sứ Trung Quốc ở Paris gửi Bộ Ngoại giao Pháp năm 1932 còn viết rằng: 밅ác đảo Ty Sa l bộ phận lãnh thổ Trung Quốc xa nhất về phía Nam).

Nếu khng có chiến tranh thế giới thứ hai thì chủ quyền của Việt Nam trn hai quần đảo Hong Sa, Trường Sa l lin tục v thật sự từ thế kỷ 17.

Nhưng năm 1939, Nhật Bản đã chiếm cả hai quần đảo Hong Sa, Trường Sa từ tay Pháp v đã biến quần đảo Trường Sa thnh căn cứ hải qun trong chiến tranh thế giới thứ hai.

Tháng 11-1943, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ, Anh, Trung (Tổng thống Roosevelt, Thủ tướng Churchill, Tổng thống Tưởng Giới Thạch) họp tại Cairo có bn về các lãnh thổ m Nhật chiếm của Trung Quốc. Tuyn bố của Hội nghị viết: 밅ác vng lãnh thổ m Nhật chiếm của Trung Quốc phải trả lại cho Trung Quốc gồm Mãn Chu, Đi Loan v quần đảo Bnh Hồ.

Như vậy rõ rng l cả 3 người đứng đầu 3 cường quốc trong đó có Tổng thống Trung Hoa Tưởng Giới Thạch đều thừa nhận hai quần đảo Hong Sa, Trường Sa khng phải l lãnh thổ của Trung Quốc.

Tháng 7, tháng 8 năm 1945 Tuyn ngn của Hội nghị Potsdam với sự tham gia của 4 nước Mỹ, Anh, Trung, Lin X lại viết: 밅ác điều khoản của bản tuyn bố Cairo sẽ được thi hnh. Như vậy cả 4 cường quốc trong đó có Trung Quốc đều thừa nhận hai quần đảo Hong Sa, Trường Sa khng phải l lãnh thổ Trung Quốc.

Năm 1947, cuốn Nam Hải Chư Đảo Địa Lý Chí Lược do Bộ Nội chính Trung Hoa Dn Quốc xuất bản có bản đồ 밡am hải chư đảo vị trí lược đồ thể hiện một đường 11 đoạn coi 80% Biển Đng v cả 4 quần đảo trn Biển Đng l thuộc Trung Quốc.

Năm 1950, trn bản đồ Trung hoa Nhn dn Cộng hòa quốc phn tỉnh tinh đồ có một phụ đồ thể hiện quốc giới của Trung Quốc gồm 11 đoạn coi cả 4 quần đảo v 80% Biển Đng l lãnh thổ Trung Quốc. Điểm cực Nam của Trung Quốc l 4o Bắc giáp Borno..

Ngy 15-8-1951, Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Quốc, tuyn bố: 밅ác quần đảo Ty Sa v Nam Sa cũng như các quần đảo Đng Sa v quần đảo Trung Sa từ xưa đến nay l lãnh thổ Trung Quốc.

Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco với sự tham gia của 51 nước, đại biểu Lin X đã đề nghị trao hai quần đảo Hong Sa, Trường Sa cho Trung Quốc; đề nghị ny đã bị Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận v văn kiện của Hội nghị ký ngy 8-9-1951 chỉ ghi về hai quần đảo l Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa v đòi hỏi đối với 2 quần đảo.

Tại hội nghị ny, ngy 7-9-1951, Thủ tướng kim Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã trịnh trọng tuyn bố Khẳng định chủ quyền đã có từ lu đời của Việt Nam đối với các quần đảo Trường Sa, Hong Sa. Đối với tuyn bố đó, khng một nước no phản đối hoặc bảo lưu. Như vậy l cộng đồng quốc tế đã thừa nhận hai quần đảo khng phải l lãnh thổ Trung Quốc.

Trong hòa ước giữa Trung Quốc v Nhật Bản ngy 28-4-1952, Trung Quốc ghi nhận việc Nhật Bản từ bỏ mọi quyền đối với hai quần đảo như nội dung đã được ghi trong văn kiện Hội nghị San Francisco m khng hề yu cầu Nhật Bản trả lại cho Trung Quốc hai quần đảo.

Tuy vậy, trn thực tế, lợi dụng tình hình Pháp rút khỏi Đng Dương, Việt Nam chưa tiếp quản hai quần đảo, năm 1956 Trung Quốc cho qun đội ra chiếm nhóm phía Đng quần đảo Hong Sa, Đi Loan cho qun đội ra chiếm đảo Ba Bình trn quần đảo Trường Sa.

Tháng Ging năm 1974, lợi dụng tình hình Mỹ phải rút khỏi Đng Dương, Trung Quốc dng một lực lượng hải qun, khng qun quan trọng đánh chiếm nhóm phía Ty quần đảo Hong Sa khi đó do qun đội của chính quyền Si Gòn bảo vệ. Chính quyền Si Gòn đã lin lạc với Mỹ yu cầu giúp đỡ.

Theo báo cáo của Trần Kim Phượng, Đại sứ Si Gòn tại Mỹ, ngy 2-2-1974 thì 밡goại trưởng Kissinger chỉ coi cuộc tranh chấp đảo Hong Sa như l một vấn đề ngoi lề thậm chí l điều bất lợi trong khung cảnh của sự phối hợp với Trung Cộng để hạn chế Bắc Việt Nam v phía Mỹ 뱆hng muốn nhúng tay vo.

Thái độ của Mỹ khiến cho ng Nguyễn Văn Thiệu phải bộc lộ lo ngại với các cận thần về khả năng Trung Cộng sẽ đánh Trường Sa v chiếm Par Force giống như Paracel (có Complicit hoặc bằng Laisser-faire của Mỹ), những chữ Pháp nói trn l theo bút tích của ng Thiệu.

Năm 1988 Trung Quốc lại huy động lực lượng khng qun, hải qun tấn cng chiếm 6 điểm trn quần đảo Trường Sa, từ đó ra sức củng cố các điểm ny lm bn đạp cho những bước tiến mới.

Ở Trung Quốc đã có những dư luận về những bước tiến lin tiếp bằng vũ lực trn quần đảo khiến cho năm 1997 hai tác giả người Mỹ Humphrey Hawksley v Simon Holberton đã viết cuốn Dragon Strike coi l 뱈ột lời cảnh báo về 뱈ột sự kiện lịch sử sắp diễn ra trong vi năm sắp tới. 밫uy chỉ l một kịch bản suy tưởng nhưng dựa trn hng trăm sự kiện có thật xảy ra những năm qua v trong những ngy gần đy. Vì vậy nó cung cấp cho các nh chiến lược của nhiều quốc gia một tầm nhìn v nhiều điều đáng suy nghĩ.

V ở Trung Quốc năm 1993, hai tác giả Hiểu Bình v Thanh Ba đã bin soạn v xuất bản cuốn Qun đội Trung Quốc liệu có đánh thắng trong cuộc chiến tranh tới khng?.

Cuốn sách viết: Nếu nh cầm quyền Việt Nam khng có nhượng bộ gì trong vấn đề Nam Sa thì Trung Quốc v Việt Nam nhất định sẽ có đánh nhau; 밫hập kỷ 90 l thời kỳ then chốt để giải quyết vấn đề Nam Sa. Thời kỳ ny qua đi, có thể Trung Quốc sẽ mất một dịp may lịch sử.

Cuốn sách còn cho biết rằng năm 1992, một hội nghị qun sự của Trung Quốc họp ở miền Nam Trung Quốc đã định ra những nguyn tắc tác chiến, kết hợp thủ đoạn đánh v dọa, 뱊hanh chóng ... đánh đuổi qun chiếm đóng nước ngoi ra khỏi Nam Sa (tức Trường Sa).

Tình hình tranh chấp phức tạp trn Biển Đng khiến cho dư luận quốc tế lo ngại, ngy 22-7-1992, các bộ trưởng bộ ngoại giao các nước thnh vin của Hiệp hội các nước Đng Nam Á đã ra tuyn bố của Hiệp hội ASEAN về vấn đề Biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đng), bản tuyn bố viết: 밅ho rằng các vấn đề Biển Nam Trung Hoa chứa đựng những vấn đề nhạy cảm thuộc về chủ quyền v quyền ti phán của các bn trực tiếp lin quan. Lo ngại rằng bất kỳ diễn biến có tính chất th địch no trong Biển Nam Trung Hoa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình v sự ổn định trong khu vực.

Dưới đy :

1. Nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết bằng phương thức hòa bình, khng dng vũ lực, đối với tất cả các vấn đề lin quan đến chủ quyền v quyền ti phán trong Biển Nam Trung Hoa.

2. Khẩn thiết yu cầu các bn lin quan tự kiềm chế, nhằm tạo ra mi trường thuận lợi cho việc giải quyết tận gốc tất cả các cuộc tranh chấp.

Trong tuyn bố ngy 10-5-1995, Mỹ cũng tỏ ra lo ngại về tình hình khu vực v 밹ực lực phản đối việc sử dụng vũ lực hay đe dọa để giải quyết những yu sách đối nghịch.

Về phía Việt Nam, chúng ta kin trì thực hiện nguyn tắc đã thỏa thuận ngy 19-10-1993 l 뱓iếp tục đm phán về các vấn đề trn biển (Biển Đng) để đi đến một giải pháp cơ bản lu di. Trong khi đm phán giải quyết vấn đề, hai bn đều khng tiến hnh các hoạt động lm phức tạp thm tranh chấp, khng dng vũ lực hoặc đe dọa dng vũ lực.

Tuyn bố của Quốc hội Việt Nam tháng 6-1994 nhn dịp ph chuẩn Cng ước của Lin Hợp Quốc về Luật biển đã cụ thể hóa quan điểm của Việt Nam về vấn đề Biển Đng l:

Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hong Sa v Trường Sa v chủ trương giải quyết các bất đồng lin quan đến Biển Đng thng qua thương lượng hòa bình, trn tinh thần bình đẳng, hiểu biết v tn trọng lẫn nhau, tn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt l Cng ước của Lin Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, tn trọng chủ quyền v quyền ti phán của các nước ven biển đối với vng đặc quyền về kinh tế v thềm lục địa, trong khi nỗ lực thúc đẩy đm phán để tìm giải pháp cơ bản, lu di, các bn lin quan cần duy trì ổn định trn cơ sở giữ nguyn trạng, khng có hnh động lm phức tạp thm tình hình, khng sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Quốc hội Việt Nam nhấn mạnh:

Cần phn biệt vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Hong Sa, quần đảo Trường Sa với vấn đề bảo vệ các vng biển v thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền v quyền ti phán của Việt Nam căn cứ vo những nguyn tắc v những tiu chuẩn của Cng ước của Lin Hợp Quốc về Luật biển năm 1982.

Sở dĩ có điều nhấn mạnh ny l để đối phó với sự việc năm 1992 Trung Quốc đã ký với Cng ty Crestone của Hoa Kỳ cho cng ty ny thăm dò khai thác một l rộng 25.500km2 trn thềm lục địa Việt Nam cách đường cơ sở của Việt Nam 84 hải lý v cách Hải Nam 570 hải lý. Theo tin nước ngoi ngy 4-12-1996 Cng ty Benton Oil v Gas có trụ sở ở Califomia đã mua lại Cng ty Crestone với giá 15,45 triệu USD v do đó đã thay thế Cng ty Crestone trong quan hệ với Trung Quốc để thực hiện hợp đồng m Crestone đã ký với Trung Quốc.

Ngy 10-6-1994, Người phát ngn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn tuyn bố rằng l Thanh Long, phía Ty khu vực Tư Chính cách đảo Hòn Hải nằm trn đường cơ sở của Việt Nam 90 hải lý cũng thuộc chủ quyền của Trung Quốc vì đó l vng phụ cận của quần đảo Nam Sa.

Về yu sách của Trung Quốc đối với thềm lục địa Việt Nam ở khu vực Tư Chính, Thanh Long, xin giới thiệu một số ý kiến của Luật sư Brice Clagett, Văn phòng luật sư Covington v Burling ở Washington đăng trn tạp chí Dầu mỏ v Khí đốt của Anh (các số 10 v 11 năm 1995) để tham khảo.

Clagett viết: 밚 Thanh Long nằm ngay trn thềm lục địa Việt Nam, thậm chí cả trong nghĩa hẹp của từ ngữ ny; 밫heo bất kỳ định nghĩa no về thềm lục địa hoặc theo bất kỳ quan điểm hơp lý no của Luật quốc tế, yu sách của Trung Quốc đối với khu vực Thanh Long l lố bịch; 밅ó thể kết luận rằng yu sách của Trung Quốc đối với khu vực Tư Chính cũng bất hợp lý khng hơn khng km yu sách của họ đối với khu vực Thanh Long. Khu vực Tư Chính tiếp giáp với khu vực Thanh Long về phía Đng, nằm chủ yếu trn dốc lục địa v (có lẽ) bờ lục địa của Víệt Nam. Khu vực Tư Chính bắt đầu từ quãng đường đẳng su 150m v tụt xuống rồi kết thúc ở khu vực đồng bằng ở su 1800-2000m tách khỏi đảo Trường Sa; 밄ờ dốc của đảo Trường Sa nằm đối diện chứ khng tiếp liền với bờ dốc của lục địa Việt Nam.

Yu sách của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử v quyền đối với hầu hết Biển Đng v/hoặc đối với đáy biển v lòng đất của nó l trái với sự phát triển ton diện của luật biển quốc tế hiện đại v khng thể được coi l một vấn đề luật pháp nghim chỉnh.

Chúng ta đang cố gắng cng Trung Quốc thực hiện 밫hỏa thuận về những nguyn tắc cơ bản giải quyết vấn đề bin giới lãnh thổ giữa hai nước, thực hiện quyết tm của lãnh đạo hai nước l đẩy nhanh tiến trình đm phán nhằm sớm đi đến ký Hiệp ước về bin giới trn bộ v Hiệp ước phn định Vịnh Bắc bộ để khi bước sang thế kỷ 21, hai nước Việt Nam v Trung Hoa đã có bin giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lu di trn đất liền v ở Vịnh Bắc bộ, đồng thời kin trì đm phán về các vấn đề trn Biển Đng để đi đến một giải pháp cơ bản, lu di. Chúng ta cũng chn thnh v kin trì thực hiện thỏa thuận 밫rong khi đm phán giải quyết vấn đề, hai bn đều khng tiến hnh các hoạt động lm phức tạp thm tranh chấp, khng dng vũ lực hoặc đe dọa dng vũ lực.

Nhưng chúng ta cũng hiểu rằng cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền Việt Nam trn hai quần đảo Hong Sa, Trường Sa, giữ vững vị trí của nước Việt Nam trn Biển Đng l một cuộc đấu tranh kết hợp các hoạt động của tất cả các ngnh trong đó mặt pháp lý l rất quan trọng, một cuộc đấu tranh phức tạp v lu di nhưng v cng quan trọng v thing ling của nhn dn ta trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của tổ quốc.

Các ngnh trong nước đang cng nhau thực hiện ý kiến thống nhất trong Hội nghị biển ton quốc tháng 2/1995 l: 밅húng ta phải thức tỉnh ý thức về biển của cả dn tộc, lm chủ được biển của mình, phát triển mạnh mẽ kinh tế biển gắn liền với bảo vệ chủ quyền v các quyền lợi của nước ta trn biển, một lần nữa vươn ln trở thnh một quốc gia mạnh về biển ở Đng Nam Á .

L.M.N. (Tạp chí Thời Đại Mới, số 12, tháng 11-2007)

LÊ MINH NGHĨA (*) Cố Trưởng ban Ban Bin giới của Chính phủ CHXHCNVN

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------